Luận Văn Tốt Nghiệp Về Lịch Sử Vùng Đất Tây Nguyên Giai Đoạn 1858-1954

Nghiên cứu chuyên sâu Khám Phá Lịch Sử Tây Nguyên (1858-1954) Qua Luận Văn Tốt Nghiệp, phương pháp luận hiện đại, kết quả ứng dụng thực tế trong lịch

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư phạm lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN VÀ LỊCH SỬ CỦA VÙNG ĐẤT NÀY TRƯỚC NĂM 1858

1.1. Khái quát về vùng đất Tây Nguyên

1.2. Điều kiện tự nhiên

1.3. Một số đặc điểm kinh tế - xã hội

1.4. Lược sử vùng đất Tây Nguyên trước năm 1858

1.4.1. Tây Nguyên từ đầu công nguyên đến thế kỉ XV

1.4.2. Tây Nguyên từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XIX

2. CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT TÂY NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1858 – 1954

2.1. Những đoàn truyền giáo và thám hiểm đầu tiên của người phương Tây đặt chân lên Tây Nguyên

2.2. Thực dân Pháp với quá trình phân chia địa giới hành chính và đặt ách cai trị ở Tây Nguyên

2.3. Quá trình ra đời của các chi bộ Đảng cộng sản trên vùng đất Tây Nguyên

2.4. Vùng đất Tây Nguyên với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám – 1945

2.5. Tây Nguyên từ sau Cách mạng tháng Tám – 1945 đến năm 1954

2.6. Một số nhận định về lịch sử vùng đất Tây Nguyên giai đoạn 1858 – 1954

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về lịch sử Tây Nguyên

Vùng đất Tây Nguyên có một lịch sử phong phú và đa dạng, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ trước năm 1858. Địa lý của Tây Nguyên đã tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc mang trong mình những giá trị văn hóa độc đáo. Lịch sử Tây Nguyên trước năm 1858 chủ yếu là sự hình thành và phát triển của các bộ tộc, với những nét văn hóa đặc trưng. Các tài liệu lịch sử cho thấy rằng Tây Nguyên từng là nơi cư trú của nhiều dân tộc như Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, và các bộ tộc khác. Những cuộc xung đột và giao lưu văn hóa giữa các bộ tộc đã tạo nên một bức tranh lịch sử phong phú. Theo tác giả Nguyễn Đình Tư, tên gọi Tây Nguyên được chính thức sử dụng từ năm 1960, nhưng vùng đất này đã có lịch sử lâu dài từ trước đó. Việc nghiên cứu lịch sử Tây Nguyên không chỉ giúp hiểu rõ hơn về vùng đất này mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số.

1.1. Điều kiện tự nhiên

Tây Nguyên nằm ở độ cao trung bình 1000 m so với mực nước biển, với diện tích khoảng 56,082 km2. Địa hình chủ yếu là rừng, núi và cao nguyên, tạo nên một hệ sinh thái phong phú. Địa lý Tây Nguyên có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia. Các tỉnh như Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng đều có những đặc điểm tự nhiên riêng biệt, từ rừng nguyên sinh đến các cao nguyên rộng lớn. Khí hậu ở đây được chia thành ba tiểu vùng, với đặc điểm nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Nguồn nước phong phú từ các con sông lớn như Sê San, Sêrêpốc và sông Ba cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp và đời sống của người dân. Tài nguyên đất đai ở Tây Nguyên rất phong phú, đặc biệt là đất đỏ bazan, rất thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su và hồ tiêu.

II. Lịch sử vùng đất Tây Nguyên giai đoạn 1858 1954

Giai đoạn từ 1858 đến 1954 là một thời kỳ đầy biến động trong lịch sử Tây Nguyên. Sự xuất hiện của thực dân Pháp đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện chính trị và xã hội của vùng đất này. Các đoàn truyền giáo và thám hiểm đầu tiên của người phương Tây đã đặt chân lên Tây Nguyên, mở đầu cho quá trình khai thác thuộc địa. Thực dân Pháp đã tiến hành phân chia địa giới hành chính và áp đặt chế độ cai trị, dẫn đến sự hình thành các chi bộ Đảng cộng sản tại đây. Chiến tranh Đông Dương đã tạo ra những biến động lớn, ảnh hưởng đến đời sống của người dân tộc thiểu số. Sự tham gia của các dân tộc thiểu số trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã thể hiện tinh thần đoàn kết và khát vọng tự do. Những thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Tây Nguyên, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của vùng đất này.

2.1. Những đoàn truyền giáo và thám hiểm

Sự xuất hiện của các đoàn truyền giáo và thám hiểm phương Tây đã tạo ra những thay đổi lớn trong lịch sử Tây Nguyên. Những người phương Tây đầu tiên đã đến đây với mục đích khám phá và truyền bá văn hóa, nhưng đồng thời cũng mang theo những ý tưởng và giá trị mới. Họ đã ghi lại những thông tin quý giá về đời sống, văn hóa và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số. Những tài liệu này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn là nguồn tư liệu quý báu cho các nghiên cứu sau này. Sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc thiểu số và người phương Tây đã tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và xã hội của Tây Nguyên. Tuy nhiên, sự hiện diện của thực dân cũng đã dẫn đến nhiều hệ lụy, làm thay đổi cấu trúc xã hội và gây ra những xung đột không đáng có.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN VÀ LỊCH SỬ CỦA VÙNG ĐẤT NÀY TRƯỚC NĂM 1858 1. Khái quát về vùng đất Tây Nguyên 1. Tên gọi Chúng ta biết đến Tây Nguyên với tư cách là một vùng đất có bề dày về lịch sử, văn hóa, trải qua các thời kì lịch sử, với các thể chế chính trị xã hội khác nhau. Trong bài viết “Tây Nguyên xưa và nay”, tác giả Nguyễn Đình Tư cho rằng địa danh Tây Nguyên được biết đến từ năm 1960, khi Hiến pháp 1959 của Việt Nam Cộng hòa được công bố, trong đó,khi đề cập đến điều khoản về khu tự trị của các sắc tộc thiểu số, tên gọi Tây Nguyên được nhắc nhở đến.

Trước đó, dưới thời trị vì của vương triều Nguyễn, vùng đất này thuộc về châuThượng Nguyên, bao gồm Thủy Xá, Hỏa Xá là vùng đất cư trú của người Ê đê, Gia Rai, Ba Na và là một phần Tây Nguyên hiện nay. Đến thời thuộc Pháp, vùng đất này chưa có tên gọi riêng mà chỉ là đơn vị hành chính trực thuộc Khâm sứ Trung Kì, nên có tên gọi là Cao nguyên Trung Kì. Ngoài ra, người Pháp còn gọi nơi này là Les Hauts Plateaux du Sub, tức là cao nguyên miền Nam. Tiếp theo chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp (09/03/1945) đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Kì thành cấp Bộ.

Từ đó, vùng đất này được gọi với tên gọi là Cao nguyên Trung Bộ.Khi chính thể Quốc gia Việt Nam được thành lập (1948), Quốc trưởng Bảo Đại đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Bộ thành cấp Phần. Riêng khu vực cao nguyên được tách ra và được hưởng quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều cương thổ. Tại vùng này thì Quốc trưởng Bảo Đại vẫn giữ vai trò là hoàng đế. Đến năm 1955, chính phủ của Ngô Đình Diệm chấm dứt chế độ Bảo Đại và thành lập nên nền Đệ nhất Công hòa.

Hoàng triều cương thổ được sáp nhập vào Trung phần và được gọi với tên gọi mới là Cao Nguyên Trung phần. Tên gọi này được chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng mãi cho đến năm 1975, trước khi được đổi gọi là Tây Nguyên như ngày nay. Điều kiện tự nhiên Nằm giữa bán đảo Đông Dương, Tây Nguyên là một vùng đất rộng lớn ở tây nam Trung Bộ. Đây là một trong những khu vực chiến lược có vai trò cực kì quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh – quốc phòng của cả nước.

Không chỉ có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với nước ta, trong lịch sử, Tây Nguyên cũng từng thể hiện vai trò “địa 7 Luan van chính trị, địa quân sự” đối với hai quốc gia láng giềng nằm trên bán đảo Trung Ấn, khi được mệnh danh là “nóc nhà của bán đảo Đông Dương” [23, tr.16] Hiện nay, Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Phía Bắc Tây Nguyên nối với dãy Trường Sơn hùng vĩ giáp với tỉnh Quảng Nam.Phía Nam nối liền các tỉnh ven biển Trung Trung Bộ. Phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và hai nước láng giềng là Lào và Campu chia. Tây Nguyên nằm ở độ cao trung bình 1000 m so với mực nước biển.

Về diện tích, địa hình và thổ nhưỡng, Tây Nguyên có diện tích tự nhiên khoảng 56082 km2, chiếm 16,2% diện tích cả nước. Địa hình Tây Nguyên chủ yếu là rừng, núi, cao nguyên, xen kẽ những thung lũng. Núi ở Tây Nguyên không phải một dải liên tục liền nhau mà tạo thành những khối phân cắt. Phần Bắc Tây Nguyên làtỉnh Kon Tum, có nhiều núi cao và rừng rậm, phân bố tập trung ở khu vực Bắc và Đông Bắc, chiếm 2/5 diện tích toàn tỉnh.

Ngọn núi cao nhất nằm trên địa phận tỉnh Kon Tum là núi Ngọc Linh (2 598m), ở phíatây nam tỉnh Kon Tum còn có dãy Ngọc Kring, Ngọc Rinh Rua, Chư Mon Ray và dãy Ngọc Nà Ay ở phía Đông Nam. Phía Bắc tỉnh Gia Lai có những dãy núi cao trên 1000 m, tuy nhiên, vùng trung tâm cao nguyên, từ phía Nam tỉnh Gia Lai đến phía Bắc tỉnh Đắk Lắk thì lại không có ngọn núi nào cao đáng kể. Phía Nam Tây Nguyên, từ phía Nam tỉnh Đắk Lắk đến Lâm Đồng có nhiều dãy núi lớn với độ cao trên dưới 2000 m.Chiếm một phần lớn diện tích của Tây Nguyên là các cao nguyên, có độ cao từ 400 m đến trên 1000 m, trải ra như những bậc thềm cao thấp kế nhau, bao gồm Cao nguyên Kon Plông (nằm giữa 2 dãy núi An Khế và Ngọc Linh), cao nguyên Kon Tum, cao nguyên Đắk Lắk, cao nguyên Lang Biang và cao nguyên Di Linh. Đan xen các vùng núi cao và cao nguyên là những thung lũng dọc lưu vực sông Đắk Bla, Pô Cô, Sa Thầy (Kon Tum), sông Ba, Ayun Pa có diện tích 4 000 km2.

Hầu hết các sông và thung lũng thường nhỏ, hẹp, nhưng có phù sa bồi đắp hàng năm, là nguồn tưới tiêu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và phục vụ đời sống nhân dân.Tây Nguyên có tài nguyên đất phong phú, giàu chất dinh dưỡng. Đây là đặc điểm nổi bật so với các vùng lãnh thổ khác của cả nước. Đất đai vùng Tây Nguyên gồm 8 loại đất chính, nhưng nhiều nhất vẫn là đất đỏ bazan, trải rộng từ phía Tây Kon Tum đến các cao nguyên Plây Cu, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Đây là loại đất rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, bông, mía, cây ăn quả và phát triển gia súc [23, tr.

8 Luan van Về khí hậu, Tây Nguyên có thể chia thành ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (Kon Tum và Gia Lai), Trung Tây Nguyên ( Đắk Lắk và Đắk Nông) và Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng). Nhưng nhìn chung đều có chung một tính chất, đó là nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Do ảnh hưởng của độ cao địa hình nên nền nhiệt độ ở Tây Nguyên bị hạ thấp đáng kể. Về thủy văn, sông ngòi, địa hình rộng lớn cộng với lượng mưa tập trung vào tháng 6đã tạo cho Tây Nguyên những sắc thái riêng về thủy văn.

Đây là nơi bắt nguồn của 28 con sông, thuộc 3 hệ thống sông: sông Đồng Nai, sông Mê Kông và sông Ba. Trong đó có 3 sông chính là Sê San, Sêrêpốc và sông Ba. Nhìn chung, sông suối ở Tây Nguyên thường dốc, bắt nguồn từ các vùng núi cao đổ về hai hướng Đông và Tây. Mùa mưa nước dâng cao, chảy xiết, tạo thành nhiều thác nước vừa có tiềm năng thủy điện lớn vừa là những cảnh đẹp khó tìm như Yaly, Đa Nhim, Đrây Hlinh, Liên Khương.

Ngoài hệ thống sông suối, Tây Nguyên còn có nhiều hồ nước lớn với nguồn nước ngầm phong phúnhư hồ Tơ Nưng (Biển Hồ), Plây Nông ở Gia Lai, hồ Lắk ở Đắk Lắk, hồ Xuân Hương ở Đà Lạt [38, tr. Về tài nguyên lâm thổ sản và khoáng sản, bao phủ phần lớn diện tích mặt đất Tây Nguyên là rừng, nhiều nơi diện tích rừng nhiệt đới nguyên sinh còn khá lớn. Rừng có nhiều loại cây gỗ như gỗ gụ màu vàng nâu đỏ, gỗ giáng hương, gỗ chò chỉ, bằng lăng, kà te, trắc, lim, kiền kiền, thông. Rừng cũng có rất nhiều loại cây dược liệu quý hiếm như sâm câu, sâm mít, sâm vừng, sâm bố chính, cát sâm, hồng sâm, thảo năng hùng,.

Ngoài ra, hàng trăm loại cây lấy bột và đủ các chủng loại rau rừng cũng là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào để rừng Tây Nguyên nuôi dưỡng những con người nơi đây [38, tr. Dưới tán lá rừng, sông suối, hồ nước, có hàng trăm loài động vật và loài cá nước ngọt, trong đó có hàng chục loài quý hiếm có tên trong sách Đỏ của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế như tê giác một sừng, nai đỏ, trâu rừng, voi, bò rừng, hổ, báo, gấu, sóc bay, công, gà tiên mặt đỏ,. Với diện tích lớn, hệ động thực vật phong phú, rừng Tây Nguyên không những là tài nguyên quý giá của quốc gia, quốc tế mà còn là nơi bảo đảm nguồn gien đa dạng phục vụ đời sống con người hiện tại và lâu dài.Tiềm ẩn trong lòng đất Tây Nguyên có nhiều tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú như than nâu, than bùn, quặng sắt, vàng, đá hoa, đá vôi, quặng bô xít và kim loại màu khác [38, tr. Dân cư, văn hóa Vấn đề dân cư cũng là một điểm đáng lưu ý khi nghiên cứu, tìm hiểu về Tây Nguyên.

Trên vùng đất này, cộng đồng các dân tộc thiểu số - chủ nhân của núi rừng đại ngàn, bao gồm Ba Na, Ê đê, Cơ Ho, Xơ Đăng, Mơ Nông. cùng chung sống hài hòa với nhau và có quan hệ mật thiết với người Việt. Theo số liệu thống kê, đầu những năm 60 của thế kỉ XX, dân số các tỉnh Tây Nguyên có khoảng 76 vạn người, trong đó người Kinh chiếm 36% dân số Tây Nguyên thời bấy giờ, 64 % còn lại thuộc về cộng đồng các dân tộc thiểu số [38;tr 73].Đến năm 2002, dân số 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng là gần 4,5 triệu người. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm khoảng 3,5 triệu người, tiếp đến là dân tộc Gia Rai (355.432 người), Ê Đê (233626 người), Ba Na (174134 người), Cơ Ho (133089 người), Tày (92293 người), Xơ Đăng (86910 người), Nùng (84864 người), Mal (33164 người) [35, tr.

Người Kinh sống tập trung ở các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế mới (sau năm 1975). Trong khi đó, các dân tộc bản địa của vùng Tây Nguyên như Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Hrê, Rơ Măm, Ba Na, M’nông, Ê Đê, Cơ Ho, Mạ, Chu Ru phân bố cư trú rộng khắp các Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, cùng định cư và chung sống với các dân tộc khác như Tày, Nùng, Mường. di cư từ phía Bắc vào. Đời sống đơn sơ, giản dị, thật thà, chất phác, thuần hậu, hiếu khách cùng với tâm hồn lạc quan của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên từ lâu đã tạo nên một nền văn hóa phong phú.

Tục ngữ, ca dao, dân ca cũng như vốn văn học dân gian được thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu như trường ca “Đam San” “Xinh Nhã”, “Đấm Di”. của các dân tộc Tây Nguyên đã phản ánh tâm hồn, tình cảm của cư dân nơi đây.Các phong tục tập quán của các dân tộc còn mang nhiều tàn dư nguyên thủy, trong đó có những tập quán tốt như việc tương trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất, trong đời sống sinh hoạt. Tất cả những sinh hoạt hội hè, đình đám, ma chay, cưới xin, dựng nhà, dời nhà,. đều mang tính cộng đồng sâu sắc với sự đóng góp công sức của tất cả mọi người [30, tr.

Đời sống tôn giáo tín ngưỡng của đồng bào Tây Nguyên cũng vô cùng phong phú.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tên "Luận Văn Tốt Nghiệp Về Lịch Sử Vùng Đất Tây Nguyên Giai Đoạn 1858-1954" của tác giả Ngô Thị Quỳnh Chi, dưới sự hướng dẫn của TS. Trương Anh Thuận tại Đại học Đà Nẵng, khám phá những biến động lịch sử quan trọng của vùng đất Tây Nguyên trong khoảng thời gian từ 1858 đến 1954. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình phát triển và thay đổi của vùng đất này mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội của Tây Nguyên trong giai đoạn đầy biến động.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghệ Thuật Cải Lương Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Hội Nhập", nơi đề cập đến sự phát triển văn hóa nghệ thuật trong bối cảnh hội nhập, hay bài viết "Luận văn thạc sĩ về dự báo dòng chảy lũ sông Lô và vận hành hồ chứa Tuyên Quang", nghiên cứu về quản lý tài nguyên nước, một vấn đề quan trọng trong phát triển bền vững. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ: Tác động của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế đến hồ thủy điện Nam Mang 3" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về tác động của các yếu tố môi trường đến phát triển kinh tế và xã hội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến lịch sử và phát triển vùng đất Tây Nguyên cũng như các khu vực khác.