phần mở đầu 5 trang và kết luận 2 trang, nội dung luận văn gồm 63 trang đƣợc bố cục trong 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Vài nét về tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, quá trình phát hiện, nghiên cứu khảo cổ học (10 trang). Chƣơng 2: Nhóm di tích thời đại kim khí ven biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (40 trang). Chƣơng 3: Vị trí nhóm di tích thời đại kim khí ven biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời tiền - sơ sử Bà Rịa - Vũng Tàu và miền Đông Nam Bộ (13 trang). Luận văn còn có phần phụ lục gồm: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 2 bản đồ; 50 bản vẽ; 14 bản dập hoa văn gốm; 30 ảnh chụp di tích, di vật từ số 1 đến số 30.
- Các bảng biểu thống kê theo loại hình và chất liệu; danh mục bảng biểu thống kê bản vẽ, bản dập, bản ảnh; 7 trang tài liệu tham khảo với 74 tài liệu. - Những trang đầu luận văn có lời cam đoan, lời cảm ơn, bảng các chữ viết tắt và mục lục. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 VÀI NÉT VỀ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU QUÁ TRÌNH PHÁT HIỆN, NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ HỌC 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ NHÂN VĂN, MÔI TRƢỜNG TỰ NHIÊN 1.
Vị trí địa lý nhân văn Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh duyên hải miền Đông Nam Bộ. Có tọa độ địa lý từ 10020' đến 10045' vĩ Bắc và 1070 đến 107035' kinh Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 125km về phía đông bắc. Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích tự nhiên 2.006,70km2 với dân số gần 800.000 ngƣời, gồm 20 thành phần dân tộc. Trong đó ngƣời Việt chiếm 97,50% dân số, các dân tộc khác có ngƣời Hoa, ngƣời Chơ Ro, ngƣời Khơ Me, ngƣời Stiêng và ngƣời Tày.
Địa giới hành chính phía bắc giáp tỉnh Đồng Nai; phía tây giáp thành phố Hồ Chí Minh; đông, đông bắc giáp tỉnh Bình Thuận; tây, đông nam giáp biển Đông. Tổ chức hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay gồm thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và 5 huyện: Tân Thành, Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc và huyện đảo Côn Đảo. Lịch sử nhân văn vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu đã trải qua nhiều biến đổi với một số nét sơ lƣợc nhƣ sau: Qua những phát hiện về khảo cổ học đã chứng minh hàng ngàn năm trƣớc con ngƣời đã có mặt trên vùng đất này. Theo các tài liệu đã nghiên cứu cho biết trên địa bàn tỉnh đã phát hiện các di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá Óc Eo.
Qua sự nghiên cứu của học giả ngƣời Pháp và sau này của các học giả Việt Nam cho thấy sự có mặt của nền văn hoá Óc Eo qua các di chỉ đã phát hiện nhƣ Bàu Thành (Long Đất), Suối Nghệ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (Châu Đức), Phƣớc Hoà - Hội Bài (Tân Thành) và trên địa bàn thành phố Vũng Tàu [13, tr. 3 - 5] Từ thế kỷ VII đến trƣớc thế kỷ XVI, trƣớc khi ngƣời Việt đến định cƣ ở Bà Rịa - Vũng Tàu và cả vùng Đông Nam Bộ vùng đất này đƣợc xem nhƣ vùng đệm giữa hai khối Chăm và Chân Lạp. Cƣ dân bản địa ở đây có ngƣời Mạ, Stiêng, Chơ Ro. Quá trình hình thành của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gắn liền với những sự kiện thăng trầm của lịch sử trên dƣới 300 năm nay.
Vào thế kỷ 16 - 17, trên vùng đất ngƣời Mạ trƣớc đây ngƣời Việt đã đến khẩn hoang, sinh cơ lập nghiệp [13, tr. Năm 1689, Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, lập phủ Gia Định gồm 4 tổng, trong đó tổng Phƣớc An ngày nay là Bà Rịa - Vũng Tàu. - Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) lập phủ Phƣớc Tuy (trong đó có Bà Rịa - Vũng Tàu) thuộc tỉnh Biên Hoà. - Hoà ƣớc Nhâm Tuất 1862, triều Nguyễn nhƣờng 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho thực dân Pháp.
Ngƣời Pháp thành lập hạt thanh tra Bà Rịa gồm 7 tổng và 64 thôn. - Năm 1867 đổi thành khu Tham biện Bà Rịa. Đến năm 1905 thành lập tỉnh Bà Rịa. Nhà Nguyễn gọi Vũng Tàu là Thuyền Úc, thời Pháp gọi Cap Saint Jacques thuộc Bà Rịa.
Năm 1929 tách Vũng Tàu lập thành tỉnh Cap Saint Jacques năm 1934 lại nhập về Bà Rịa cho đến năm 1945. - Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1947, chính phủ lâm thời Cộng hoà Nam kỳ tách Vũng Tàu lập thành tỉnh Cap Saint Jacques. Sau năm 1951 đến 1954 hợp nhất tỉnh Bà Rịa với Chợ Lớn thành tỉnh Chợ Lớn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năm 1957 chính quyền Sài Gòn hợp nhất Vũng Tàu, Bà Rịa thành tỉnh Phƣớc Tuy.
Năm 1963 hợp nhất Bà Rịa và Biên Hoà thành tỉnh Bà Biên. Một năm sau đó lại tách ra. Sau đó hợp nhất với tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Rịa Long Khánh cho đến 1975. - Sau 1975, Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai.
Năm 1979, tách Vũng Tàu Côn Đảo thành lập Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo. Đến 1991, Chính phủ quyết định thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trên cơ sở nhập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo cũ với 3 huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai. Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay là tỉnh có vị trí rất quan trọng trong những vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với lợi thế ƣu đãi của thiên nhiên, Bà Rịa - Vũng Tàu có thế mạnh về thăm dò khai thác, chế biến dầu khí, sản xuất điện năng, khai thác chế biến thuỷ hải sản, dịch vụ xuất nhập khẩu thông qua hệ thống các cảng biển, cảng sông, dịch vụ du lịch.
Kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt cây công nghiệp phục vụ chế biến xuất khẩu. Bên cạnh nguồn lực tự nhiên phong phú, nguồn lực con ngƣời năng động đã góp phần to lớn cho sự phát triển của tỉnh trong cả hai thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Môi trường tự nhiên Bà Rịa - Vũng Tàu cũng nhƣ các tỉnh trong vùng Đông Nam Bộ có lịch sử kiến tạo địa chất phức tạp, lâu dài, từ hàng triệu năm trƣớc. Các nhà địa chất cho biết đây là vùng đất thuộc miền uốn nếp chuyển tiếp giữa địa khối Đà Lạt và miền sụt võng của châu thổ sông Cửu Long.
Từ giai đoạn Tân kiến tạo (Neogen cách đây 25 triệu năm), nhất là từ cuối thời Poliocene (5 triệu năm) đến đầu Pleistocene (2 triệu năm) xảy ra những hoạt động kiến tạo mạnh mẽ có tác động 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến cảnh quan môi trƣờng hiện tại. Cùng sự nâng lên của khối núi Nam Trung Bộ, và Tây Campuchia, sự hạ thấp bù trừ giữa hai sơn khối đó, xảy ra sự phun trào bazan qua các khe nứt kiến tạo mạnh mẽ có ảnh hƣởng nhiều đến cảnh quan địa hình hiện nay. Vào thời kỳ biển tiến Pleistocene giữa (700.000 năm) đã nhấn chìm một phần đồng bằng Nam Bộ, đến Pleistocene muộn (125.000) biển lùi, đồng bằng Nam Bộ đƣợc nâng lên, lộ ra trầm tích Pleistocene sau này gọi là phù sa cổ vào khoảng thời Holocene trung kỳ cách ngày nay khoảng 6000 năm, hoạt động phun trào lớn xảy ra tạo thành lớp phủ bazan trẻ lên phần lớn bề mặt vùng Đông Nam Bộ. Đợt biển tiến Holocene trung đạt mức cực đại 5m, sau đó biển rút dần.
Đến 3000 năm cách ngày nay biển rút xuống tƣơng đƣơng mức nƣớc hiện tại [40, tr. Quá trình biển thoái dẫn đến việc hình thành các đồng bằng phù sa trẻ ở Long Đất, ven sông Thị Vải, hệ rừng ngập mặn và rừng sác phía nam của tỉnh. Về cơ bản kiến tạo địa chất, địa hình, thuỷ văn đã khá ổn định nhƣ cảnh quan hiện nay.500 cách ngày nay, các bãi biển hiện đại đã đƣợc hình thành. Các đồng bằng thấp cửa sông phát triển trầm tích đầm lầy biển.
Các thung lũng bị bazan chắn dòng cơ bản đƣợc lấp đầy tạo thành các hồ, đầm lầy, dọc theo bờ biển hình thành các cồn cát cao, tạo môi trƣờng thuận lợi cho một số bộ phận dân cƣ di chuyển, định cƣ dần ở các vùng thấp, gần các thềm sông, đồng bằng ven biển. - Địa hình Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, địa hình Bà Rịa - Vũng Tàu có địa thế không cao lắm, chia cắt không mạnh, xu thế thấp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dần về phía nam. Có bốn dạng địa hình cơ bản: miền đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cổ, miền đồng bằng ven biển, vùng sình lầy ngập mặn cửa sông ven biển. Miền đồi núi thấp độ cao trung bình từ 100 đến 300m, đƣợc xem là địa hình cuối hệ núi và cao nguyên vùng Đông Nam Bộ.
Địa hình phổ biến là đồi thấp, xen kẽ vài khối núi granít dựng đứng nhƣ núi Mây Tào, núi Dinh, núi Thị Vải, Châu Viên, núi Lớn, núi Nhỏ. Riêng Côn Đảo 88% là núi. Bậc thềm phù sa cổ cao từ 50m đến 100m, phía nam miền núi thấp, từ Tân Thành đến Xuyên Mộc tạo thành dải đất khá bằng phẳng, chủ yếu là đất xám, một số nơi xen lẫn đất bazan màu mỡ. Đồng bằng ven biển có độ cao dƣới 50m tạo thành do phù sa sông, biển kết hợp.
Dễ nhận thấy là phần đất bằng phẳng xen giữa núi Lớn, núi Nhỏ, ở Vũng Tàu qua rìa nam Long Đất, Xuyên Mộc là những cồn cát, bãi lầy. Vùng sình lầy ngập mặn ven biển đang tiếp tục hình thành bởi lƣợng phù sa lắng đọng của sông Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Dinh, sông Ray. Là địa bàn phát triển của sú, vẹt, đƣớc, đây cũng là nơi nhiều tôm cá và các loài giáp xác. - Khí hậu Nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo, chế độ gió mùa, nóng ẩm, quanh năm.
Bà Rịa - Vũng Tàu có khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260C đến 270C. - Sông ngòi Bà Rịa - Vũng Tàu không có những sông lớn. Sông Thị Vải do ba dòng suối lớn hợp thành: suối Cả, suối Thái Phiên, suối Phú Mỹ (suối Nhum hay suối Nhung) chảy qua huyện Tân Thành chảy ra vịnh Ghềnh Rái. Sông Dinh do suối Hoài, suối Cầu hợp thành chảy qua vùng Bà Rịa đổ ra vịnh Ghềnh Rái.
Sông Cái lớn nhất tỉnh, do sông Ray, sông Hoả, sông Bà Đáp hợp lại chảy qua Xuyên 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mộc, Long Đất đổ ra biển Đông. Tuy không có những con sông lớn chảy trên địa bàn tỉnh, nhƣng vịnh Ghềnh Rái lại là nơi hợp nguồn đổ ra biển của sông Đồng Nai.