CHƯƠNG 1: VĂN HÓA TỔ CHỨC Mã chương: MH24-01 A. Giới thiệu: - Khái niệm và đặc điểm văn hoá tổ chức - Các dạng văn hoá tổ chức - Nhân tố tạo lập văn hoá tổ chức. Mục tiêu: Học xong chương này người học có khả năng: Kiến thức: Trang bị cho người học một số vấn đề chung về văn hoá tổ chức bao gồm khái niệm, đặc điểm; các biểu hiện, các dạng văn hoá tổ chức; nhân tố tạo lập văn hoá tổ chức. Kỹ năng: Vận dụng các kiến thức đã học để tuân thủ và nghiên cứu ở các chương kế tiếp.
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nghiêm túc trong học tập và nghiên cứu. Nội dung bài giảng: 1. Khái niệm và đặc điểm văn hoá tổ chức 1. Khái niệm văn hoá Có thể nói văn hoá là một khái niệm có nhiều định nghĩa nhất bởi góc nhìn, cách tiếp cận và ý kiến khác nhau trên nhiều lĩnh vực.
Hiện nay khái niệm văn hoá đang được sử dụng cũng vẫn chỉ có tính chất quy ước, nhằm đi đến một khái niệm có tính chất thoả thuận để tiện sử dụng, bởi vì chúng ta mới chỉ đi được những bước đầu tiên tới cách hiểu đúng và định nghĩa đúng thế nào là văn hoá. Khái quát chung, có thể hiểu “Văn hoá là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Có thể nói văn hoá là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó”.
Văn hoá là một hệ thống được định hình và phát triển trong quá trình lịch sử, bao gồm nhiều yếu tố hợp thành như hệ giá trị, tập quán, thói quen, lối ứng xử, các chuẩn mực xã hội; nó mang tính ổn định bền vững và có khả năng di truyền qua nhiều thế hệ. Đảng ta đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội”. Văn hoá tổ chức Trong mỗi tổ chức đều tồn tại những hệ thống hay chuẩn mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được tổ chức tôn trọng và truyền từ người này sang người khác, thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi của các thành viên.
Khi phải đối đầu với những vấn đề nan giải về đạo đức, những hệ thống giá trị, phương pháp tư duy này có tác dụng chỉ dẫn các thành viên tổ chức cách thức ra quyết định hợp với phương châm hành động của tổ chức. Khái niệm được sử dụng để phản ánh những hệ thống này được gọi với nhiều tên khác nhau như văn hoá tổ chức, hay văn hoá công ty (corporate culture), văn hoá doanh nghiệp, văn hoá kinh doanh (business culture). Là một lĩnh vực mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ qua, các định nghĩa về khái niệm này còn rất khác nhau phản ánh sự mới mẻ của vấn đề, tình trạng chưa thống 2 nhất về cách tiếp cận, mối quan tâm, phạm vi ảnh hưởng và vận dụng ngày càng rộng của những khái niệm này. Mặc dù thuật ngữ “văn hoá tổ chức” xuất hiện khá muộn, khái niệm này đã được vận dụng từ khá sớm trong lĩnh vực quản lý tổ chức ở các nước phương Tây dưới tên gọi là văn hoá.
Trong một công trình nghiên cứu tiến hành vào năm 1952, Kroeber và Kluckholn đã thống kê được 164 cách định nghĩa khác nhau về “văn hoá” vận dụng trong công ty. Ngày nay khi các khái niệm “văn hoá” và “tổ chức” hay “doanh nghiệp” được kết hợp với nhau để trở thành một lĩnh vực nghiên cứu xác định, đặc thù – văn hoá tổ chức - số lượng các định nghĩa về khái niệm mới này còn nhiều hơn nữa. Trong Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp của trường Đại học Kinh tế Quốc dân có viết : Văn hoá tổ chức được định nghĩa là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên.Văn hoá kinh doanh thể hiện sự đồng thuận về quan điểm, sự thống nhất trong cách tiếp cận và trong hành vi của các thành viên một tổ chức. Nó có tác dụng giúp phân biệt giữa tổ chức này với các tổ chức khác.
Chúng được mọi thành viên trong tổ chức chấp thuận có ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng và làm theo. Chính vì vậy chúng còn được gọi là “bản sắc riêng” hay “bản sắc văn hoá” của một tổ chức mà mọi người có thể xác định được và thông qua đó có thể nhận ra được quan điểm và triết lý đạo đức của một tổ chức. Văn hoá tổ chức tạo điều kiện cho các thành viên nhận ra được những sắc thái riêng mà một tổ chức muốn vươn tới. Nó cúng tạo ra sự cam kết tự nguyện đối với những gì vượt ra ngoài phạm vi niềm tin và giá trị của mỗi cá nhân.
Chúng giúp các thành viên mới nhận thức được ý nghĩa của các sự kiện và hoạt động của tổ chức. Đặc điểm văn hoá tổ chức Văn hoá tổ chức có một số đặc điểm. Thứ nhất, văn hoá tổ chức liên quan đến nhận thức. Các cá nhân nhận thức được văn hoá của tổ chức thông qua những gì họ nhìn thấy, nghe được trong phạm vi tổ chức.
Cho dù các thành viên có thể có trình độ hiểu biết khác nhau, vị trí công tác khác nhau, họ vẫn luôn có xu thế mô tả văn hoá tổ chức theo cách tương tự. Đó chính là “sự chia sẻ” về văn hoá tổ chức. Thứ hai, văn hoá tổ chức có tính thực chứng. Văn hoá tổ chức đề cập đến cách thức các thành viên nhận thức về tổ chức.
Có nghĩa là, chúng mô tả chứ không đánh giá hệ thống các ý nghĩa và giá trị của tổ chức. Biểu hiện của văn hoá tổ chức 2. Các biểu trưng trực quan của văn hoá tổ chức Văn hoá tổ chức của một tổ chức được thể hiện bằng những biểu trưng trực quan điển hình là (a) đặc điểm kiến trúc, (b) nghi lễ, (c) giai thoại, (d) biểu tượng, (e) ngôn ngữ, (f) ấn phẩm điển hình. Kiến trúc đặc trưng Những kiến trúc đặc trưng của một tổ chức gồm kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất công sở.
Phần lớn những tổ chức thành đạt hoặc đang phát triển muốn gây ấn tượng đối với mọi người về sự khác biệt, thành công và sức mạnh của họ bằng những công trình 3 kiến trúc đặc biệt và đồ sộ. Những công trình kiến trúc này được sử dụng như biểu tượng và hình ảnh về tổ chức. Có thể thấy trong thực tế những ví dụ minh hoạ ở các công trình kiến trúc lớn của các nhà thờ, trường đại học. ở Mỹ và Châu Âu.
Các công trình này rất được các tổ chức chú trọng như một phương tiện thể hiện tính cách đặc trưng của tổ chức. Những thiết kế nội thất cũng rất được các tổ chức quan tâm. Từ những vấn đề rất lớn như tiêu chuẩn hoá về màu sắc, kiểu dáng của bao bì đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục. đến những chi tiết nhỏ nhặt như đồ ăn, vị trí công tắc điện, thiết bị và vị trí của chúng trong phòng vệ sinh.
tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí và được quan tâm. Thiết kế kiến trúc được các tổ chức rất quan tâm là vì những lý do sau: - Kiến trúc ngoại thất có thể có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc. - Công trình kiến trúc có thể được coi là một linh vật biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một tổ chức. - Kiểu dáng kết cấu có thể được coi là biểu tượng cho phương châm chiến lược của tổ chức.
- Công trình kiến trúc trở thành một bộ phận hữu cơ trong các sản phẩm của tổ chức. - Trong mỗi công trình kiến trúc đều chứa đựng những giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời và trưởng thành của tổ chức, các thế hệ nhân viên. Nghi lễ Một trong số biểu trưng của văn hoá tổ chức là nghi lễ. Đó là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng với các hình thức hoạt động, sự kiện văn hoá - xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm được thực hiện định kỳ hay bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ tổ chức và thường được tổ chức vì lợi ích của những người tham dự.
Những người quản lý có thể sử dụng lễ nghi như một cơ hội quan trọng để giới thiệu về những giá trị được tổ chức coi trọng. Đó cũng là dịp đặc biệt để nhấn mạnh những giá trị riêng của tổ chức, tạo cơ hội cho mọi thành viên cùng chia sẻ cách nhận thức về những sự kiện trọng đại, để nêu gương và khen tặng những tấm gương điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần tôn trọng của tổ chức. Có bốn loại lễ nghi cơ bản : chuyển giao, củng cố, nhắc nhở và liên kết. Loại hình Minh họa Tác động tiềm năng Chuyển giao Khai mạc, giới thiệu thành Tạo thuận lợi cho việc viên mới, chức vụ mới, lễ thâm nhập vào cương vị ra mắt mới, vai trò mới Củng cố Lễ phát phần thưởng Củng cố các nhân tố hình thành bản sắc và tôn thêm vị thế của thành viên Nhắc nhở Sinh hoạt văn hoá, chuyên Duy trì cơ cấu xã hội và môn, khoa học làm tăng thêm năng lực tác nghiệp của tổ chức 4 Liên kết Lễ hội, liên hoan, Tết Khôi phục và khí ch lệ chia sẻ tình cảm và sự thông cảm nhằm gắn bó các thành viên với nhau và với tổ chức Biểu 3.1 Bốn loại lễ nghi trong tổ chức và tác động tiềm năng của chúng 2.
Giai thoại Giai thoại thường được thêu dệt từ những sự kiện có thực được mọi thành viên trong tổ chức cùng chia sẻ và nhắc lại với những thành viên mới.