CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TRUYEN THONG MẠNG XÃ HOI CUA NHÀ BAO 1.1 Các khái niệm liên quan dén dé tai 1.1 Truyền thông Truyền thông là một khái niệm mang ý nghĩa rộng, mang tính bao trùm. Đã có rất nhiều định nghĩa về truyền thông. Mỗi nhà nghiên cứu truyền thông khi đưa ra định nghĩa về truyền thông đều dựa trên góc độ tiếp cận nhất định. Như Gerald Miller cho rang: Truyền thông quan tâm đến tình huống hành vi, nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận nhằm mục đích tác động thay đổi hành vi của đối tượng bị tác động.Schaechter đưa ra định nghĩa về truyền thông như: “Truyền thông là một quá trình qua đó quyền lực được thé hiện và tính độc quyền tăng lên.
Điều này phụ thuộc vào mục đích và môi trường, cũng như phương thức truyền thông”. Tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xa hồi học báo chí thì cho rằng: “Truyền thông là quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người trong không gian như từ nơi này tới nơi khác, từ thời điểm này tới thời điểm khác”. Còn tác giả Nguyễn Văn Dững (2018) thì nhận định: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đối thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội”.
Nhìn chung, truyền thông có thể được xem là một quá trình liên tục để trao đổi, chia sẻ thông tin, tư tưởng, tình cảm giữa người với người, giữa người với môi trường xã hội dé tạo sự hiểu biết lẫn, dé làm thay đổi nhận thức và hành vi theo mục đích nhất định. Nhà chính trị học và truyền thông người Mỹ Harold Lasswell (1902-1978) đã đưa ra mô hình truyền thông vào năm 1948. Theo ông, dé có quá trình giao tiép truyên thông xảy ra cân có các yêu to sau: 7 Dẫn theo Nguyễn Văn Ding (2018), Truyén thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Thông tin và Truyền thông. 13 - § (sender): nguồn phát - M (message): thông điệp, nói cái gi? - C (chanel): kênh, cách thức truyền tải thông điệp - R (receiver): người nhận - E: Effect Mô hình 1: Trước và khi có truyền thông Trước khi có truyền thông Sau khi có truyén thông Hình 1: Mô hình truyền thông của Lasswell S M C R E Trong do: - § (sender): Khoi nguồn - M (message): Thông điệp, nói cái gi? - C (chanel): Kênh, cách thức truyền tai thông điệp.
- R (receiver): Người nhận. - E: (effect) Mặc dù mô hình truyền thông này của Harold Lasswell dé hiểu, dé thực hiện, phù hợp với các loại giao tiếp truyền thông. Nhưng mô hình của Lasswell lại mang tính một chiều, tuyến tính, áp đặt, chủ quan duy ý chí, không có sự tương tác phản hồi. Mô hình này phù hợp với dang các web 1.0 và cách làm báo tuyên truyền chính trị, cách làm báo một chiều không có sự tương tác phản hồi của công chúng.0 ra đời khoảng từ năm 1997 đến năm 2005.0 là một trang web tĩnh, chỉ cho phép người dùng tìm kiếm và đọc các thông tin, người dùng không thê tương tác với trang web đó như nhận xét, đánh giá, phản hồi thông tin.
Còn những trang web 2.0 là những ứng dụng trực tuyến, nền tảng mạng xã hội, blog.0 được xem là một trong những phương pháp kết nối internet 14 mới mẻ, nhằm thúc đây quá trình trao đôi thông tin và hợp tác giữa mọi người với nhau trên internet thông qua ứng dung web, tập trung hướng vao con người.0 có đặc trưng dé phân loại, tìm kiếm thông tin: gan thẻ, trang web, hình ảnh, video hoặc liên kết. Vì vậy, người dùng có những trải nghiệm phong phú, đa dạng hơn. Với dạng Web 2.0 sẽ thích hợp với mô hình truyền thông của nhà toán học, lý thuyết thông tin người Mỹ Claude Elwood Shannon (1916-2001) và nha toán hoc Weaver (1894-1978) hon. Theo hai tác giả trên, mô hình thông tin sẽ diễn ra như sau: Hình 2: Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver.
Trong do: S: Sender (nguồn phát) M: Message (thông điệp) C: Chanel (kênh) R: Receiver (người nhận thông điệp) E: Effect (hiệu quả truyền thông) N: Noise (nhiễu) F: Feedback (phan hồi) Qua mô hình truyền thông của Shannon va Weaver ta thay, đây là mô hình truyền thông tin hai chiều đúng bản chất, không mang tính áp đặt, công khai, thoải mái. Tuy nhiên, mô hình truyền thông này dễ bị nhiễu, tiêu cực, ảnh hưởng quá trình thông tin (mặt xã hội, kỹ thuật, tự nhiên, mạng xã hội, truyền thông. Qua đó, dé khắc phục được yếu tố nhiễu thì người làm truyền thông phải hiểu 15 đối tượng như giới tính, ngôn ngữ, trình độ, tuổi tác.và kỹ thuật phải đồng bộ nhất quán, phải kiểm chứng thông tin chính xác. Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver sẽ phù hợp với môi trường báo chí, sự phát triển của xã hội, văn hóa và nén chính trị của Việt Nam hiện nay hơn những mô hình truyền thông khác.
Các nền tảng truyền thông mạng xã hội sẽ giúp cho công chúng có khả năng tương tác, tự chia sẻ, lan truyền những sản pham mang tinh báo chí, có thê tương tác với các nhà báo, cơ quan báo chí và giữa nhà báo với công chúng.2 Truyền thông mạng xã hội Khái niệm truyền thông xã hội (social media) ra đời khoảng một vài thập kỷ trước đây với sự xuất hiện của mạng internet buổi sơ khai và hệ thống tin nhắn BBS (Bulletin Board System)*. Tuy nhiên, khi người dùng có thé tự xây dựng được nội dung, kết nối và tương tác với nhau trên nền tảng nền tang Web 2.0, thì truyền thông mạng xã hội mới thực sự bùng nô. Theo định nghĩa mà Bo Thông Tin và Truyền thông của nhà nước Việt Nam, mang xã hội (Social network) là: “Hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đôi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác ”°' Trong khi đó, Nguyễn Khắc Giang trong bài viết (Anh hưởng của truyền thông xã hội đến môi trường báo chí Việt Nam, 2015) cho rang: Truyền thông xã hội (Social media) và mạng xã hội (Social network) có sự khác nhau. Về mặt bản chất công nghệ, hai khái niệm này đều cùng chỉ một bản thể: đó là những website dựa trên nền tảng web 2.0 để giúp người sử dụng có thê tạo lập và truyền tải thông tin.
Tuy vậy, thuật ngữ truyền thông xã hội mang nghĩa rộng hơn, bao hàm cả phương tiện lẫn nội dung truyền thông, trong khi mạng xã hội nhắn mạnh nhiều hơn đến nền tảng công nghệ tạo ra nó [7]. Một khảo sát công bố năm 2016 cho thấy, người dùng mạng xã hội ở Mỹ Latinh rất mạnh mẽ. 8 Globe, Gordon, The history of social networking. Tap chi Digital Trend.com/features/the-historyof-social-networking/), truy cập (20/5/2021).
? Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Nghị định Về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên mạng, sô 72/2013/NĐ-CP. 16 5 trong số 10 thị trường truyền thông xã hội có mức độ tương tác cao nhất nằm ở Mỹ Latinh là: Argentina, Brazil, Peru, Chile và Mexico. Sự thâm nhập của các phương tiện truyền thông mạng xã hội là không đồng đều trong khu vực Mỹ Latinh. Ví dụ, ở Chile và Uruguay, hơn 60% dân số có các tài khoản mạng xã hội đang hoạt động, trong khi các quốc gia như Honduras, Nicaragua và Haiti có tỷ lệ (25%) thấp hơn rất nhiều.
Tuy nhiên, người Mỹ Latinh dành nhiều thời gian trên các nền tảng mạng xã hội hơn mức trung bình toàn cầu và các nền tảng này đóng một vai trò quan trọng trong việc tương tác tin tức của người dùng trực tuyến. Nhiều hãng truyền thông tin tức, nhà báo, công chúng ở Mỹ Latinh thừa nhận tiềm năng của phương tiện truyền thông xã hội là để phổ biến thông tin địa phương và xây dựng mạng lưới lớn hơn dé tìm nguồn tin. Nghiên cứu cho thấy rang, khán giả dang nắm bắt tiềm năng về tin tức trên mạng xã hội. Trong 21 quốc gia ở Mỹ Latinh được khảo sát, có đến 85% người dùng internet tìm kiếm tin tức trong khi sử dụng mạng xã hội và 78% chia sẻ tin tức với bạn bè, người theo dõi của ho’”.
Ở nước ta, các mạng xã hội ra đời ngày càng nhiều, cùng với đó là xu hướng thích sử dụng mạng xã hội của đông đảo người dùng nói chung và nhà báo nói riêng. Tuy nhiên, đến ngày 17 thang 6 năm 2021, Bộ Thông tin và Truyền thông mới chỉ dừng lại ở mức ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên mang xã hội với 9 điều. Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội đã quy định các quy tắc ứng xử chung dành cho các tô chức, cá nhân nói chung và dành riêng cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang làm việc trong cơ quan nhà nước nói riêng. Bộ quy tắc ứng xử quy định buộc các tô chức phải tôn trọng, tuân thủ pháp luật, lành mạnh, an toàn, bảo mật thông tin và phải có trách nhiệm với các hành vi của mình khi ứng xử trên các nền tảng mạng xã hội: Các tổ chức, cá nhân chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy; có các hành vi, ứng xử phủ hợp với những giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam; không sử dụng từ ngữ gây thù hận, kích động bạo lực, phân biệt vùng 10 số liệu dan theo Magdalena Saldaña, Vanessa de Macedo Higgins Joyce, Amy Schmitz Weiss, and Rosental Calmon Alves (2016), Analysis of social media adoption by Latin American journalists, Journalism Practice, Taylor & Francis.
17 miền, giới tính, tôn giáo; không đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, các thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm, ảnh hưởng đến quyên, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục; tung tin giả, tin sai sự thật; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép. Bộ Quy tắc ứng xử còn khuyên khích sử dụng mạng xã hội dé tuyên truyền, quảng bá về đất nước, con người, văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, chia sẻ thông tin tích cực, những tắm gương người tốt, việc tốt; vận động người thân trong gia đình, bạn bẻ, những người xung quanh tham gia giáo dục, bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội một cách an toàn, lành mạnh.