Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN THỰC VẬT RỪNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Các nghiên cứu về phát triển bền vững có liên quan đến tài nguyên rừng và tài nguyên thực vật rừng 1. Các nghiên cứu bàn về vốn tài nguyên, tài nguyên rừng và tài nguyên thực vật trong tăng trưởng kinh tế Khi xem xét tới tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế học cho rằng tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên thực vật rừng nói riêng là loại vốn, tạo nguồn vốn tích lũy cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các nghiên cứu Hussain và cộng sự (2019) [195], Schure và cộng sự (2014) [234], Zulu và cộng sự (2013) [255] bàn về vai trò của tài nguyên rừng, tài nguyên thực vật rừng trong việc tạo thu nhập, việc làm và tạo nguồn vốn để đầu tư cho giáo dục, y tế và các hoạt động kinh tế khác. Như vậy, vấn đề đặt ra là khai thác như thế nào để bảo vệ tài nguyên thực vật rừng và vừa phục vụ các mục tiêu phát triển bền vững. Tài nguyên thực vật rừng có vai trò đối với tăng trưởng kinh tế, một số nghiên cứu tập trung phân tích các vấn đề khác nhau về luận điểm “lời nguyền tài nguyên”. Lời nguyền tài nguyên là thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên và tăng trưởng kinh tế.
Thuật ngữ này dùng để nói lên nghịch lý là quốc gia giàu có tài nguyên thiên nhiên nhưng không thể biến lợi thế đó để phát triển đất nước, ngược lại, thường là các quốc gia kém phát triển. Các tác giả Sachs và Warner (1999) [228] nghiên cứu về các nguy hại tiềm ẩn của việc khai thác tài nguyên đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Công trình của Gylfason (2001) [184] cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa giàu tài nguyên và phát triển giáo dục, hệ quả là ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và tăng trưởng bền vững. Nhìn chung, các nghiên cứu này chủ yếu so sánh giữa các nhóm quốc gia giàu tài nguyên và nghèo tài nguyên, chưa giải thích được cho một quốc gia trong các giai đoạn khác nhau sẽ như thế nào nếu dựa vào khai thác tài nguyên.
Trong khi một số tác giả chứng minh “lời nguyên tài nguyên” nhằm phản đối việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, không ít nghiên cứu cho thấy kết quả ngược lại. Nghiên cứu của Philippot (2010) [223] cho thấy, khai thác tài nguyên đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu của Brunnschweiler (2010) [154] và Ahrend (2002) [147] cũng cho thấy kết quả tương tự. 10 Việc các nghiên cứu đưa ra các kết quả khác nhau về “lời nguyền tài nguyên” để ủng hộ hoặc phản đối khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng là điều dễ hiểu.
Điều này là bởi do sự khác nhau về phương pháp nghiên cứu và/hoặc các quốc gia có các điều kiện khác nhau. Chính vì vậy, chủ đề này cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để góp phần làm sáng tỏ vấn đề. Nghiên cứu của Hotelling (1931) [194] đã xây dựng mô hình, phân tích các mối liên hệ giữa các nguồn lực để phát triển kinh tế với tài nguyên thiên nhiên. Cleveland và Stern (1997) [163] bàn về chỉ số khan hiếm tài nguyên thiên nhiên.
Nghiên cứu này cung cấp phương pháp khoa học cho việc đánh giá mức độ khan hiếm của tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu góp phần định giá tài nguyên, đánh giá kết quả của việc khai thác, sử dụng tài nguyên để phát triển kinh tế. Một cách tiếp cận để đánh giá xu hướng khai thác tài nguyên thiên nhiên và tác động về môi trường trong tiến trình tăng trưởng kinh tế là sử dụng đường cong Kuznet. Đường cong này do Simon Kuznets đề xuất để mô tả mối quan hệ giữa sự thay đổi trong thu nhập quốc dân bình quân đầu người và các biến kinh tế như tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm, trong điều kiện tổng hợp giữa các quốc gia khác nhau và theo thời gian.
Sự phát triển của “Đường cong Kuznets môi trường” (EKC) là ví dụ mở rộng của các chỉ số môi trường để đánh giá phát triển bền vững. Những người ủng hộ EKC lập luận rằng thiệt hại về môi trường ban đầu tăng lên trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế và sau đó giảm dần. Những thay đổi trong thành phần của hoạt động kinh tế cùng với việc sử dụng các công nghệ tốt hơn ngày càng bù đắp và trong nhiều trường hợp lớn hơn những hiệu ứng quy mô của tăng trưởng kinh tế. Việc áp dụng các chính sách xây dựng trên hiện đại hóa sinh thái, và việc sử dụng ngày càng cao của chuyển giao công nghệ, tạo ra khả năng đi tắt bằng đường hầm qua EKC.
Cách giải thích tương tự mô phỏng dạng đường EKC là lý thuyết về diễn biến rừng do Mather (1992) [212] đề xuất. Lý thuyết về diễn biến rừng phản ánh sự thay đổi về diện tích rừng và độ che phủ rừng theo thời gian, theo đó, độ che phủ rừng hay tỷ lệ mất rừng của quốc gia sẽ bắt đầu giảm dần theo thời gian, tới một điểm nào đó sẽ dừng hẳn rồi sau đó tăng lên do chuyển sang trạng thái rừng trồng, rừng được tái sinh. Mức tăng độ che phủ rừng sau đó sẽ dần tiến tới trạng thái bền vững và ổn định trong tương quan với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Dựa vào mô hình tăng trưởng của Solow (1974) [238] và sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu của Hartwick (1977) [188] chỉ ra rằng, mức tiêu dùng cố định có thể đạt được bằng cách đầu tư lợi tức từ khai thác tài nguyên vào sản xuất.
Theo Hamilton (1995) [187] nguồn lợi thu từ khai thác tài 11 nguyên cần phải đầu tư vào vốn xã hội, vốn con người nhằm tạo ra nguồn vốn thay thế cho các thế hệ tương lai. Các nghiên cứu về tài nguyên rừng, tài nguyên thực vật rừng phục vụ phát triển bền vững Tác giả Dresner (2008) [168] đã tổng hợp và phân tích các vấn đề có liên quan: lịch sử phát triển khái niệm phát triển bền vững, các cuộc tranh luận hiện nay về con đường để đạt được sự phát triển bền vững, các trở ngại và triển vọng về phát triển bền vững. Các tác giả Bell và Morse 2008) [153] đã có đóng góp lớn về lý luận và thực tiễn trong việc sử dụng các chỉ số phát triển bền vững. Các tác giả đã giới thiệu hệ thống các quan điểm và một loạt các công cụ, kỹ thuật làm sáng tỏ hơn những vấn đề phức tạp trên cơ sở tiếp cận định tính hơn là tiến hành các biện pháp đo lường định lượng.
Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) nghiên cứu về các công cụ kinh tế trong khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường. Các xuất bản quan trọng như: về sử dụng các công cụ kinh tế trong chính sách môi trường [244], công cụ kinh tế cho quản lý tài nguyên bền vững [243], công cụ kinh tế để tăng cường sử dụng bền vững tài nguyên, bền vững môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu [201]. Các công cụ kinh tế được nhắc đến ở đây mới chỉ dừng lại ở các chính sách thuế/phí là chủ yếu, bên cạnh đó các nghiên cứu này chưa chỉ rõ các công cụ này có thể sử dụng để áp dụng cho loại tài nguyên cụ thể nào. Tác giả Pausegal (2011) [85] đã bàn về khía cạnh làm thế nào để tiêu dùng tài nguyên: phúc lợi tài nguyên và phân bổ tài nguyên.
Nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ về tầm quan trọng của thể chế như là nguồn lực giúp việc sử dụng (phân bổ) tài nguyên, đảm bảo cho phát triển. Nghiên cứu này cung cấp cách tiếp cận về phương thức khai thác tài nguyên đảm bảo các vấn đề xã hội có liên quan. Công trình của Manuel và Tan (2015) [60] đã nghiên cứu những kiến thức, hệ thống và tập quán liên quan đến nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của những nhóm người dân tộc bản địa tại Philippines. Có tới 11 trong số 17 nhóm người dân tộc được nghiên cứu phụ thuộc ở mức từ trung bình đến nặng nề vào cơ giới hóa nông nghiệp và sử dụng những yếu tố đầu vào mang tính thương mại.
Nghiên cứu đã phân tích đặc điểm kinh tế của các loại cây trồng hiện tại của các nhóm ở mỗi địa phương, đề xuất các loại cây trồng thay thế cùng mức độ sản xuất của các loại cây trồng thay thế (thặng dư hay đủ cho tiêu dùng). Tác giả cũng khuyến cáo về các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp (phát triển nông nghiệp hữu cơ thay vì nông nghiệp phi hữu cơ), đề xuất giải pháp quản lý khai thác tài nguyên thiên nhiên. Tóm tắt các mô hình quản lý các tài nguyên trong khu vực bảo tồn như: cơ chế quản lý và quản trị do các tổ chức chính phủ và phi chính phủ quản lý, do cộng đồng người thiểu số địa phương quản lý, cơ chế quản lý và cai quản của các vành đai đệm xung quanh vườn quốc gia. Trong đó các khu vực được bảo tồn với các hệ thống quản lý có sự tham gia của cộng đồng sẽ được xã hội chấp nhận, tiết kiệm chi phí kinh tế, và bền vững về mặt sinh thái.
Tại nhiều quốc gia đang phát triển khác, nơi mà các cơ quan phụ trách còn non yếu, người dân còn nghèo khó và áp lực của họ đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên rất lớn thì các chiến lược bảo tồn dựa trên sự ủy quyền cho người dân và phương pháp tích hợp chương trình sẽ phù hợp hơn để đem lại những hiệu quả quản lý tốt hơn so với phương pháp ép buộc và cô lập. Các nghiên cứu đề xuất các cách tiếp cận về khai thác tài nguyên thực vật rừng phục vụ phát triển bền vững 1. Các nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến tài nguyên rừng, khai thác tài nguyên rừng và tài nguyên thực vật rừng phục vụ phát triển bền vững Tài nguyên thực vật rừng có vai trò quan trọng về kinh tế đối với không ít người dân ở nông thôn, thậm chí là cả thành thị. Nguồn tài nguyên này có thể giúp hộ gia đình, cá nhân khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ để cung cấp thu nhập bằng tiền mặt nhằm đa dạng hóa thu nhập và chi trả cho các nhu cầu cơ bản như thực phẩm, chăm sóc y tế và học phí (Hussain và cộng sự, 2019) [195], (Zulu và cộng sự, 2013) [255].