CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm quan niệm Khi nói về QN thì có rất nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra. Theo từ điển tiếng Việt: “Quan niệm là sự nhận thức như thế nào đó về một vấn đề, một sự kiện”.
[7] Theo từ điển triết học thì: “Quan niệm là đặc trưng ý thức con người, dựa trên việc đối lập nó về mặt nhận thức luận với cái vật chất, với vật chất. Tri thức về thế giới là một hình thức quan niệm về những mối liên hệ khách quan của sự vật, những hình thức đó không tồn tại độc lập, mà chỉ tồn tại trong mối quan hệ của hoạt động con người của thế giới khách quan. Vì vậy khác với thế giới đang tồn tại một cách độc lập, khách quan, tri thức về thế giới và ý thức nói chung được đặc trưng như cái quan niệm”.[9] Tóm lại, các nhà triết học, tâm lý học…đều có những cách định nghĩa riêng về QN. Nhưng tất cả đều thể hiện QN là sự hiểu biết của con người về các sự vật, hiện tượng, khái niệm và các quá trình tự nhiên thông qua đời sống, sinh hoạt và lao động sản xuất hàng ngày mà có.
Những hiểu biết đó được thu thập qua từng ngày, ghi nhớ và lưu giữ trong trí nhớ của con người. Được tái hiện khi gặp môi trường kích thích, tác động và có nhu cầu bộc lộ. QN mang tính cá nhân, thể hiện suy nghĩ rất đặc trưng của mỗi cá nhân, thông thường được hình thành tự phát, thiếu tính khách quan và thiếu tính khoa học. Vì mỗi cá nhân có trình độ nhận thức về sự vật, hiện tượng khác nhau, với mỗi góc độ sẽ tương ứng với cách đánh giá khác nhau.
Đối với HS cũng vậy, trước những sự vật, hiện tượng thì mỗi em cũng có những QN riêng của mình dựa trên những hiểu biết nhất định về cuộc sống hằng ngày, ta gọi đó là “quan niệm của học sinh”. Trong những QN đó cũng có QN đúng và cũng có QN không đúng. Những QN không đúng với bản chất vật lý, bản chất khoa học của các sự vật, hiện tượng vật lý, khái niệm vật lý, ta gọi đó là những “quan niệm sai lệch của học sinh”. Khái niệm quan niệm của học sinh Đã có rất nhiều nhà lý luận học và tâm lý học đã nghiên cứu về QN của HS để tìm ra ảnh hưởng của nó đối với quá trình dạy và học.
Kết quả cho chúng ta biết rằng HS không phải là tờ giấy trắng để người GV vẽ lên đó những tri thức mà tự HS đã vẽ cho mình những đường nét về tri thức, tuy sơ sài nhưng đó có thể xem là tài sản riêng của HS về tri thức. Đó chính là QN của HS, chúng ta có thể minh họa cho những điều vừa nói trên qua các ví dụ sau: Ví dụ 1: Em tán thành với kết luận nào sau đây? a. Không khí ẩm có khối lượng riêng lớn hơn không khí khô. Không khí khô có khối lượng riêng lớn hơn không khí ẩm.
Kết quả cho thấy đa phần HS sẽ chọn phương án 1, đây là QN rất hợp lý so với suy luận của các em. Vì trong đời sống thì các em thường thấy cùng một vật mà khi ẩm ướt sẽ nặng hơn khi khô. Ví dụ 2: Khi đặt một cốc nước lạnh và cốc nước nóng vào tủ lạnh thì cốc nước nào sẽ đóng băng nhanh hơn? Trong trường hợp này thì nhiều HS sẽ chọn là cốc nước lạnh sẽ đóng băng nhanh hơn. Vì nghĩ rằng cốc nước lạnh đã nguội sẵn rồi giờ chỉ cần thời gian làm đóng băng còn muốn đóng băng cốc nước nóng thì phải cần thời gian làm nguội nó rồi cần tiếp thời gian làm đóng băng.
Do đó HS có QN thời gian đóng băng của cốc nước nóng sẽ lâu hơn. Ví dụ 3: Các em có tán thành với ý kiến này không? Khi chúng ta dùng điện thoại để nói chuyện với nhau thì sóng truyền qua dây điện thoại là sóng âm? Đa số HS sẽ đồng ý với QN này. Vì trong thực tế khi chúng ta nói chuyện điện thoại thì sẽ nghe được âm thanh của nhau, hơn nữa xuất phát từ ngôn ngữ thì HS sẽ nghĩ ngay rằng sóng truyền qua dây điện thoại chính là sóng âm. Nguồn gốc quan niệm của học sinh QN của HS được hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau: qua đời sống thực tế hằng ngày, thói quen sinh hoạt, xuất phát từ ngôn ngữ thường dùng, các 7 phương tiện, đồ dùng hằng ngày hay qua giao tiếp, trao đổi với mọi người, qua các giờ học trước….Tuy nhiên, chủ yếu là do các yếu tố sau.
Thực tế đời sống hằng ngày Ngay từ khi sinh ra, sự trưởng thành của chúng ta luôn gắn liền với các hoạt động trong gia đình, xã hội, được giao tiếp với người lớn. Vì thế chúng ta càng ngày càng mở mang tầm hiểu biết của mình. Sự hiểu biết đó có được là nhờ sự giáo dục của gia đình, xã hội. Đó chính là những kiến thức ban đầu, được tích lũy qua thực tiễn, qua kinh nghiệm sống.
Đến khi chúng ta được tiếp xúc với môi trường giáo dục ở trường học thì những kiến thức đó sẽ được sử dụng, được đem ra làm nền tảng cho mỗi người để tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn, tốt hơn. Và đặc biệt là những kiến thức đó sẽ được phát triển đầy đủ và chính xác hơn nên có thể nói việc học của con người là quá trình diễn ra ở nhà trường và gia đình, xã hội. Việc học từ cuộc sống hằng ngày được tích lũy từ kinh nghiệm sống nên nó chỉ đem lại cho chúng ta những tri thức tiền khoa học, đây chính là vốn hiểu biết, tài sản tri thức riêng của mỗi cá nhân. Hay nói cách khác đây là QN của mỗi người có được từ thực tế đời sống hằng ngày.
Như vậy, kinh nghiệm sống, việc giao tiếp, học hỏi…chính là nguồn gốc dẫn đến việc hình thành QN của HS về các sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn, trong cuộc sống HS thường thấy rõ ràng sợi lông tơ rơi chậm hơn viên bi nên đã hình thành QN sai lệch ở HS rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Đây cũng chính là QN sai lệch của Aristot, QN này tồn tại cũng khá lâu trong nền khoa học thời Trung cổ. Mãi đến sau này Galile phủ nhận điều đó và chứng minh bằng thực nghiệm khoa học về ảnh hưởng của sức cản không khí đến sự rơi của vật hay QN vật rắn dày hơn sẽ bền hơn.
Hay từ nhỏ các em đã thường thấy hay đã thực hiện việc kéo chiếc xe, nếu chúng ta kéo xe thì xe sẽ chuyển động và ngưng kéo thì xe sẽ dừng. Và cùng chiếc xe đó mà có thêm một người giúp cùng kéo thì xe sẽ chuyển động nhanh hơn. Vì thế, đã hình thành cho HS có QN rằng lực luôn gắn liền với chuyển động và lực tác dụng càng lớn thì vật có vận tốc càng lớn. 8 Từ các ví dụ trên cho thấy rằng kinh nghiệm sống, hoạt động thực tiễn là yếu tố góp phần rất quan trọng để các QN của HS về các sự vật, hiện tượng được hình thành trong tư duy của các em.
Sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ góp phần hình thành quan niệm của học sinh Ngôn ngữ tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Cùng một từ ngữ nhưng khi ghép với mỗi cấu trúc câu thì cho ý nghĩa tương ứng khác nhau và có thể dùng để diễn đạt nhiều vấn đề khác nhau. Ngược lại, cùng một vấn đề nhưng có thể dùng nhiều từ ngữ khác nhau để diễn đạt. Hay một từ cũng có thể dùng để diễn đạt cho nhiều vần đề, nhiều ý nghĩa khác nhau.
Tùy thuộc vào hoàn cảnh mà người nghe có thể hiểu theo nghĩa phù hợp cũng như tùy thuộc vào người nói có thể chọn các từ ngữ phù hợp với mục đích của mình. Trong vật lý học cũng có một số trường hợp các thuật ngữ dùng để diễn đạt các khái niệm, hiện tượng vật lý trùng với các thuật ngữ thường dùng để diễn đạt các vấn đề trong đời sống. Và những từ ngữ như vậy mang hai ý nghĩa đó là ý nghĩa trong sinh hoạt hằng ngày và ý nghĩa trong vật lý được hiểu một cách khoa học. Có những từ ngữ xuất hiện liên tục trong đời sống và được hiểu theo cách hiểu hằng ngày, nó trở nên quá quen thuộc với HS nên khi gặp lại trong giờ học vật lý với vai trò là một khái niệm hay hiện tượng vật lý thì rất dễ làm cho HS có QN sai lệch về bản chất khoa học của chúng.
Ví dụ: Khi học bài công- công suất, nhắc đến thuật ngữ công thì HS sẽ có suy nghĩ công chính là công sức, công việc, công phu, công lao….mang ý nghĩa là sự tiêu hao công sức, tiêu hao năng lượng. Đây là những QN mà HS có được và mang vào trong giờ học vì thế rất khó khăn để cho GV hướng HS đến một khái niệm mới theo khoa học. Nhất là khi nói rằng công của lực phụ thuộc vào quãng đường đi, vì trong đời sống chúng ta hay nói mất công, tốn công vô ích…thì ở đây công không hề phụ thuộc vào quãng đường. 9 Hay trong sinh hoạt hằng ngày ta thường dùng hai từ sức và lực với cùng một ý nghĩa, nhằm chỉ sức mạnh, sức khỏe, sức lực…Nhưng trong vật lý thì hai từ này được hiểu theo một cách khoa học và được phân biệt rõ ràng: Sức: sức bền….
Lực: lực hút, lực đẩy, lực nén, lực đàn hồi…. Hai từ này không thể thay thế cho nhau, không thể nói là sức hút, sức đàn hồi…và cũng không thể nói là lực bền… Từ những ngôn ngữ thường dùng trong đời sống với ý nghĩa thông dụng đã góp phần giúp HS liên tưởng đến khái niệm trong vật lý và đây là sự hiểu sai lệch về mặt khoa học, về bản chất vật lý. Làm cho GV rất khó khăn trong việc giúp HS tiếp cận với kiến thức khoa học mới. Trái lại, cũng có những trường hợp cùng một ý nghĩa, cùng một khái niệm nhưng có thể dùng các thuật ngữ khác nhau để diễn đạt, ví dụ như: Các electron hay các điện tử Điện thế hay điện áp Chính vì có những trường hợp như vậy đã làm cho HS dễ bị lẫn lộn dẫn đến hình thành các QN theo cách hiểu của mình.
Hay nói cách khác sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ là nguyên nhân hình thành nên QN sai lệch của HS về các hiện tượng, khái niệm vật lý.