CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả giới thiệu lý do chọn đề tài nghiên cứu bắt nguồn từ các lý do khách quan lẫn chủ quan khác nhau. Từ tính cấp thiết của đề tài, tác giả trình bày mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa về thực tiễn và lý thuyết của đề tài nghiên cứu. Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2.1 Tín dụng ngân hàng thương mại 2.1 Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại được pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, như: nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ.1 Chức năng của Ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến và cộng sự (2012), ngân hàng thương mại có các chức năng sau: Chức năng trung gian tín dụng: Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Chức năng này đem lại lợi ích cho các chủ thể như sau: Đối với khách hàng: là người gửi tiền, họ sẽ thu lợi từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức tiền lãi, an toàn tiền gửi, tiện ích.
Với người đi vay, giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế thoả mãn cầu vốn tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời tiết kiệm chi phí, thời gian, tiện lợi, an toàn và hợp pháp. Đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển ngân hàng thông qua lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, đồng thời nó là cơ sở để ngân hàng thương mại tạo bút tệ góp phần tăng qui mô tín dụng cho nền kinh tế. 7 Đối với nền kinh tế, chức năng này giúp điều hoà vốn tiền tệ từ nơi tạm thời dư thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chức năng tạo tiền Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đi vay. Sau đó, số tiền đó lại được đưa vào nền kinh tế thông qua hoạt động mua hàng hóa, trong khi những người có số dư tài khoản tiếp lại tiêu dùng thông qua các hình thức thanh toán qua thẻ,… Chức năng thủ quỹ Với chức năng này, ngân hàng thương mại nhận tiền gửi, giữ tiền, bảo quản tiên, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền cho khách hàng của mình là các chủ thể trong nền kinh tế. Chức năng thủ quỹ góp phần tạo ra lợi ích cho các chủ thể khác nhau: Đối với khách hàng, chức năng thủ quỹ giúp cho khách hàng ngoài việc đảm bảo an toàn tài sản của mình thì còn giúp sinh lời được đồng vốn tạm thời thừa. Đối với ngân hàng, có được nguồn vốn để ngân hàng thực hiện chức năng tín dụng và là cơ sở để ngân hàng thực hiện được chức năng trung gian thanh toán.
Đối với nền kinh tế, chức năng thủ quỹ khuyến khích tích lũy trong xã hội đồng thời tập trung nguồn vốn tạm thời thừa để phục vụ phát triển kinh tế.1 Tín dụng ngân hàng 2.1 Khái niệm Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (2010): Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận.Tín dụng ngân hàng là quan hệ cấp tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng. Cấp tín dụng là việc NH “thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên 8 tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập ở nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài.Tổ chức tín dụng nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài là loại hình ngân hàng thương mại; công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài là loại hình công ty tài chính; công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài là loại hình công ty cho thuê tài chính 9 theo quy định của Luật này.Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.2 Phân loại tín dụng ngân hàng TDNH có thể phân loại theo nhiều tiêu thức: Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng trong ngân hàng, TDNH bao gồm: Cho vay, Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, Bảo lãnh, Cho thuê tài chính. Căn cứ theo tiêu chí thời gian cấp tín dụng bao gồm: Tín dụng ngắn hạn, Tín dụng trung hạn, Tín dụng dài hạn. Căn cứ vào mục đích vay vốn: Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, Tín dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Căn cứ vào phương thức đảm bảo tiền vay: TD bảo đảm bằng tài sản: Cầm cố thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn, Bảo lãnh bằng tài sản của bên thức ba, Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Cho vay không có tài sản đảm bảo (tín chấp): Cho vay không có tài sản đảm bảo theo quy định của Chính Phủ, Cho vay hộ gia đình nghèo, có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, Cho vay hộ gia đình không có tài sản đảm bảo. 10 Căn cứ vào Phương thức cho vay: Cho vay trực tiếp từng lần, Cho vay theo hạn mức, Cho vay thấu chi, Cho vay theo dự án, Cho vay đồng tài trợ, Cho vay trả góp, Phương thức cho vay khác.2 Tín dụng doanh nghiệp Theo Nguyễn Hữu Tài (2007), tín dụng doanh nghiệp là khoản cho vay tài chính doanh nghiệp nhằm đáp ứng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mục đích của các doanh nghiệp thường là bổ sung vốn lưu động, mua thiết bị máy móc, hoặc đầu tư khác. Do là doanh nghiệp nên các khoản cho vay tương đối lớn và tùy thuộc vào quy mô và mục đích sử dụng mà doanh nghiệp sẽ được vay các khoản vay từ phía tổ chức tài chính tín dụng khác nhau.
Do đó, quá trình thẩm định tín dụng doanh nghiệp cũng sẽ càng kỹ hơn và cần nhiều giấy tờ hơn nếu vay các khoản vay lớn. Khác biệt giữa tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cá nhân Tín dụng doanh nghiệp là những khoản cho vay tài chính doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mục đích đi vay của doanh nghiệp thường là để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị mới,xây dựng nhà xưởng hay bổ sung vốn lưu động. Vì là doanh nghiệp nên những khoản cho vay tương đối lớn, tùy theo quy mô và mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp thì khoản vay được tài trợ từ phía tổ chức tài chính tín dụng sẽ khác nhau.