CHƯƠNG 1 Trong phần này là phần giới thiệu về lý do nghiên cứu của đề tài, mô tả lược khảo về các tài liệu nghiên cứu trước đó có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. Ngoài ra, đề tài đã nêu lên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu để định hướng quá trình nghiên cứu và kết quả mong đợi đạt được. Đề tài cũng nêu đối tượng, phạm vi nghiên cứu, không gian nghiên cứu nhằm xác định rõ vấn đề cần nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, thiết kế bố cục cho đề tài nhằm xác định các bước cần làm cho quá trình nghiên cứu để đi đến mục tiêu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chủ yếu của chương này là trình bày các cơ sở về lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Các nội dung được tổng hợp và trình bày dựa trên các lý thuyết kinh điển có liên quan đến khả năng sinh lời của một số tác giả nổi tiếng. Đồng thời, các phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích, mô hình nghiên cứu và khung nghiên cứu cũng được trình bày cụ thể trong chương này.1 Khả năng sinh lời Khả năng sinh lời là một trong những mục tiêu được các nhà điều hành lẫn các nhà đầu tư quan tâm vì lợi nhuận cao sẽ giúp cho các công ty bảo tồn vốn, tăng thị phần và thu hút đầu tư. Khả năng sinh lời là một phạm trù kinh tế thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận và phản ánh hiệu quả của công ty. Khả năng sinh lời của một công ty là kết quả so sánh hiệu quả được cụ thể hóa trong doanh thu và chi phí (Andreica và cộng sự, 2012).
Theo Howard và cộng sự (1961) thì khả năng sinh lời là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí (Deloof, 2003). Theo Shosha (2014) thì lợi nhuận đóng vai trò quan trọng đối với sự sống còn của một công ty trong môi trường cạnh tranh. Lợi nhuận hay có thể gọi là khả năng sinh lời là mục tiêu chính của tất cả các hoạt động kinh doanh.
Nếu công ty không có khả năng sinh lời thì hoạt động kinh doanh không thể tồn tại trong một thời gian dài. Vì vậy, việc đo lường khả năng sinh lời trong quá khứ, hiện tại và dự đoán khả năng sinh lời trong tương lai đóng vai trò rất quan trọng. Khả năng sinh lời của công ty là kết quả đích thực – kết quả cuối cùng – của hoạt động kinh doanh mang lại và được đo bằng lượng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị yếu tố đầu vào hay lượng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị chi phí đầu vào hoặc lượng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất. Ở góc độ này, hiệu quả hoạt động phản ánh khả năng sinh lời của công ty.
Khả năng sinh lời là biểu hiện cao nhất của hiệu quả kinh doanh vì mục đích cuối cùng của kinh doanh là lợi nhuận. Việc tạo ra lượng lợi nhuận cao nhất trên một đơn vị chi phí hay một đơn vị yếu tố đầu vào hoặc trên một đơn vị đầu ra phản ánh tương quan so sánh giữa tổng lợi nhuận thu được với tổng chí phí bỏ ra hay với tổng yếu tố đầu vào sử dụng hoặc tổng kết quả sản xuất thu lại được (Nguyễn Văn Công, 2009). 6 Để đo lường khả năng sinh lời, các nhà phân tích có thể tiếp cận nhiều cách khác nhau. Các nhà phân tích chú trọng vào các chỉ tiêu sau: tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) (Nguyễn Văn Công, 2009).
Theo Gitman (2012) tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) đo lường tổng thể hiệu quả quản lý tài sản thông qua việc tạo ra lợi nhuận trên tài sản sẵn có. Theo đó, Cohen và cộng sự (1997), McGuire và cộng sự (1988), Russo và cộng sự (1997); Clarkson và cộng sự (2008), Burja (2011) kết luận rằng tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) được sử dụng làm thước đo khả năng sinh lời vì nó đo lường hiệu quả của tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo Almajali và cộng sự (2012) có nhiều biện pháp khác nhau để đo lường hiệu quả hoạt động: lợi nhuận bán hàng phản ánh số tiền công ty kiếm được thông qua doanh số bán hàng, tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của công ty và tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) phản ánh năng lực sử dụng đồng vốn của công ty để sinh lợi như thế nào. Tương tự, các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng được sử dụng nhằm đánh giá khả năng sinh lời của công ty (Abor, 2005; Zeitun và cộng sự, 2007; Onaolapo (2010); Ahmad (2011).
Theo lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược của Murphy (1996), khả năng sinh lời như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là các yếu tố cốt lõi của tính hiệu quả của công ty. Các biến đại diện cho khả năng sinh lời phổ biến là tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) và tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng đã được các nhà nghiên cứu Chinaemerem và cộng sự (2012), Gorton và cộng sự (1995), Mehran (1995), Ang và cộng sự (2000) sử dụng các chỉ tiêu này đại diện cho các chỉ số tài chính để đo lường khả năng sinh lời.2 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Các chỉ tiêu thường sử dụng phản ánh khả năng sinh lời là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ quản lý, căn cứ để đưa ra các quyết định trong tương lai và độ chính xác của thông tin từ các chỉ tiêu hiệu quả phân tích phụ thuộc vào nguồn số liệu, thời gian và không gian phân tích. Để đánh giá khả năng sinh lời của công ty, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu như sau: 2.1 Tỷ suất sinh lời trên tài sản (Return on Asset – ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, không phân biệt tài sản này được hình 7 thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. ROA là suất sinh lời trên tài sản của công ty sau tác động của thuế nhưng chưa có tác động của nợ.
ROA = * Đặc điểm của ROA: - Là suất sinh lời trên tài sản của công ty sau thuế, do đó ROA chịu ảnh hưởng bởi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp. - Không chịu ảnh hưởng của cơ cấu vốn. ROA là suất sinh lời sau thuế của công ty với giả định công ty không sử dụng nợ, vì vậy chỉ tiêu ROA chưa tính đến tác động của khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay, công ty sẽ phải nộp thuế trên cơ sở lợi nhuận trước thuế trước lãi vay vì giả định không sử dụng nợ. * Ý nghĩa của ROA: - Phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của công ty.
- Là cơ sở quan trọng để những người đi vay hoặc cho vay cân nhắc liệu xem công ty có thể tạo ra mức sinh lời cao hơn chi phí sử dụng nợ không. - Là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn. Số chênh lệch giữa ROA và chi phí sử dụng nợ vay sau thuế (lãi suất vay sau khi đã khấu trừ thuế) dương thể hiện công ty sử dụng nợ vay có hiệu quả vì nợ vay có khả năng làm gia tăng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu. Để phân tích những yếu tố tác động đến ROA, các nhà phân tích thường tách ROA làm hai thành phần như sau: ROA = x ROA = Tỷ suất lợi x Vòng quay nhuận biên ròng tài sản + Lợi nhuận ròng/Doanh thu phản ánh hiệu quả tiết kiệm chi phí hoạt động của công ty.
Lợi nhuận ròng/Doanh thu chịu ảnh hưởng bởi đòn bẩy hoạt động của công ty. Ở mức 8 doanh thu càng cao, khả năng gia tăng lợi nhuận hoạt động càng cao, bởi vì lúc này phần doanh thu tăng lên chỉ dùng để bù đắp phần chi phí biến đổi gia tăng tương ứng và phần còn lại là lợi nhuận tăng thêm. + Hệ số vòng quay vốn cho thấy hiệu quả của việc tiết kiệm vốn. Hệ số vòng quay vốn cao thể hiện công ty có thể tạo ra được nhiều doanh thu hơn trên một đồng vốn đầu tư.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào công ty đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp.
ROE có liên quan đến chi phí lãi vay, liên quan đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính. ROE = ROE = x x ROE = Tỷ suất lợi x Vòng quay x Hệ số đòn bẩy nhuận biên ròng tài sản tài chính Trị số của chỉ tiêu ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụng có hiệu quả vốn chủ sở hữu và do vậy, càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Hơn nữa, trị số này lớn còn cho thấy năng lực của bộ phận quản lý trong việc cân đối một cách hài hòa, hợp lý giữa vốn chủ sở hữu với nợ phải trả để vừa bảo đảm an toàn tài chính, vừa khai thác được lợi thế cạnh tranh của công ty trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh. Số vốn chủ sở hữu bình quân trong công thức xác định ROE được tính như sau: Vốn CSH bình quân = (Lê Hoàng Vinh và cộng sự, 2018).3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời Các biến độc lập đại diện cho các nhân tố được xem xét ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty cổ phần niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh gồm: cơ cấu vốn, kỳ thu tiền bình quân, đầu tư tài sản cố định, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, khả năng thanh toán, quy mô công ty, tốc độ tăng trưởng doanh thu, số ngày một vòng quay hàng tồn kho và thời gian.