CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Quản trị công ty được định nghĩa như là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát công ty. Quản trị công ty cũng bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ công ty như các cổ đông, ban giám đốc điều hành, hội đồng quản trị mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài công ty: cơ quan quản lý Nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả môi trường, cộng đồng, xã hội. Quản trị công ty là một phần quan trọng trong sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ bởi vì nó giúp tăng cường khả năng của công ty trong việc thu hút đầu tư, tăng trưởng và phát triển mà còn giúp cho các công ty vững mạnh hơn trên thị trường, làm ăn có hiệu quả và năng cao hiệu suất lao động. Do đó, quản trị công ty sẽ có tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty đó.
Nền kinh tế Việt Nam sau chiến tranh là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, được điều hành bởi Nhà nước. Tuy nhiên, trải qua một quá trình phát triển, nền kinh tế này đã bộc lộ nhiều yếu kém và không còn phù hợp. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương chuyển đổi kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường, tuy vẫn bị giới hạn với cụm từ “kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Thời kỳ 1986-2000 gọi là thời kỳ chuyển tiếp của nền kinh tế Việt Nam, đã mang lại những bước tiến đáng kể giúp kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển.
Trong đó, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một giải pháp quan trọng để đổi mới quan hệ sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước. Cổ phần hóa được xem là một sự thay đổi trong quản trị công ty, nhằm đa dạng hóa hình thức sở hữu, đổi mới phương thức quản lý doanh nghiệp, tạo động lực cho người lao động làm chủ doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành cổ phần hoá thì vốn chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước được bán cho nhiều đối tượng khác nhau như các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp đã tạo cơ chế nhiều người cùng lo. Nhà nước có thể giữ lại một tỷ lệ cổ phần hoặc không.
Như vậy hình thức sở hữu tại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu nhà nước duy nhất sang sở hữu hỗn hợp. Từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty. Doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá sẽ tổ chức hoạt động theo luật doanh nghiệp. Tính đến năm 2012, cả nước còn hơn 1.300 doanh nghiệp nhà nước, trong đó có 452 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, công ích, còn lại hơn 820 doanh nghiệp tham gia kinh doanh vì mục đích lợi nhuận.
Hiện tại, cả nước đang có 101 tập đoàn, tổng công ty và 2 ngân hàng thương mại do nhà nước giữ 100% vốn. Ngoài ra, có 23 tổng công ty, ngân hàng thương mại nhà nước hoàn toàn cổ phần hoá, nhà nước giữ cổ phần chi phối. Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã góp phần giảm mạnh số lượng doanh nghiệp nhà nước, cải thiện cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng tích cực, đó là, doanh nghiệp nhà nước chỉ nắm giữ những ngành, lĩnh vực, địa bàn then chốt, không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã góp phần làm giảm gánh nặng của Nhà nước phải bao cấp, bù lỗ hằng năm.
Cùng với đó, trong quá trình cổ phần hóa, nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước cũng được xử lý một cách cơ bản; đồng thời, chấm dứt xu hướng thành lập doanh nghiệp nhà nước một cách tràn lan. Trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa, vai trò làm chủ của người lao động – cổ đông được nâng lên rõ rệt, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Trước yêu cầu toàn cầu hóa, các thành phần kinh tế yêu cầu phải đổi mới để phù hợp với tình hình thực tế, tạo ra sự thay đổi trong quản trị công ty để giúp công ty có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường.
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là xu thế tất yếu, góp phần tạo động lực cho các doanh nghiệp này nổ lực trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư, góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên, quá trình cổ phần hóa trong những năm gần đây đã bị đình trệ vì một số lý do. Bài nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của quản trị công ty thông qua cổ phần hóa bằng việc phân tích thống kê chi tiết của sự khác biệt (khác biệt trước và sau cổ phần hóa) trong kết quả hoạt động của các công ty được cổ phần hóa trong thời gian qua dựa trên việc phân tích biến động các chỉ tiêu tài chính về khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động, đòn bẩy và số lượng lao động. Bài nghiên cứu muốn góp phần nâng cao nhận thức của tất cả các thành phần tham gia vào nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa của những doanh nghiệp nhà nước còn lại.
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu được đưa ra bởi 3 nhà nghiên cứu Megginson, Nash and Van Randenborgh (1994), gọi tắt là phương pháp MNR. Phương pháp này so sánh hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính trước và sau cổ phần hóa của một mẫu đầy đủ các công ty. Ngoài ra để hạn chế nhược điểm phương pháp so sánh trước sau, bài nghiên cứu còn áp dụng phương pháp DID (khác biệt của khác biệt) để so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm công ty – công ty tư nhân và công ty cổ phần trong cùng giai đoạn nghiên cứu. Từ đó thấy được là sự khác biệt giữa hai loại hình và sự khác biệt theo thời gian (trước và sau khi cổ phần hóa).
Cụ thể sẽ được trình bày trong phần 3 của bài nghiên cứu này. Bài nghiên cứu này sẽ trả lời những câu hỏi sau: · Ảnh hưởng của việc cổ phần hóa đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty được cổ phần như thế nào? · Cổ phần hóa có thật sự tăng cường kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa hay không thông qua việc so sánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp trước và sau khi cổ phần hóa? TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Cổ phần hóa hay còn gọi là tư nhân hóa, có nghĩa xã hội hóa các nguồn lực quốc gia là một xu hướng tất yếu đã và đang được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới từ hơn 30 năm qua. Tư nhân hóa, đơn giản là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu về hàng hóa dịch vụ từ khu vực công sang khu vực tư nhân. Chương trình tư nhân hóa bắt đầu vào năm 1984 và đã đi được một chặng đường gần một phần tư thế kỷ.
Kể từ đó, tư nhân hóa đã trở thành một phần chính sách của chính phủ, không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và việc đánh giá hiệu quả kinh tế của sở hữu tư nhân đối lập với nhà nước đã là chủ đề của cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu. Một trong những lý do tại sao quản trị doanh nghiệp đã trở thành một chủ đề nổi bật trong hai thập kỷ qua theo Becht, Bolton, và Rosell (2002) là làn sóng tư nhân hóa trên toàn thế giới đã đưa ra vấn đề công ty mới được cổ phần hóa nên được sở hữu và kiểm soát như thế nào. Các bằng chứng về ảnh hưởng tích cực của cổ phần hóa lên kết quả hoạt động của doanh nghiệp Về lý thuyết, vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế là không thể thiếu như nhà kinh tế học nổi tiếng John Maynard Keynes cho rằng, Nhà nước có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự ổn định của khu vực tư nhân thông qua kiểm soát lãi suất, thuế và các dự án công. Các Tổng thống Mỹ Franklin D.
Roosevelt và Obama đều áp dụng lý thuyết kinh tế của Keynes nhằm đối phó với cuộc Đại suy thoái 1929 - 1933 và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 -2009 (Thorne, Ferrell & Ferrell 2011). Tuy nhiên từ khi bắt đầu, quá trình tư nhân hoá được kích đẩy do cơ chế thị trường, được xem là có nhiều ưu việt hơn, bảo đảm cho mọi hoạt động kinh tế tự do phát triển: trong cơ chế thị trường mọi người có quyền lựa chọn công việc phù hợp, ở đó hoạt động kinh doanh diễn ra theo phương thức “thuận mua vừa bán”. Ở cơ chế này, chỉ có cạnh tranh mà theo Adam Smith gọi là “bàn tay vô hình” điều khiển tất cả. Cạnh tranh sẽ làm cho các nhà sản xuất không hiệu quả, thiếu nhạy bén tự động rút lui khỏi thị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trường, từ đó các nguồn lực sử dụng không hiệu quả sẽ được phân phối lại cho những người biết cách sử dụng hiệu quả hơn.
Để đánh giá được tác động của việc tư nhân hóa đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành. Nghiên cứu thực nghiệm trong hai thập kỷ qua nói chung đã thống nhất rằng doanh nghiệp cổ phần hóa dường như có kết quả tốt hơn so với các doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sở hữu tư nhân có thể giúp cải thiện hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, và điều này thực sự đã được khẳng định lặp đi lặp lại trong các nghiên cứu thực nghiệm (ví dụ, Vickers và Yarrow, 1991; Shleifer, 1998; D'Souza và Megginson, 1999; Nellis, 1999, 2000; Havrylyshyn và McGettigan, 2000; Djankov và Murrell, 2000; Shirley và Walsh, 2000; Megginson và Netter, 2001;Megginson và Sutter, 2006). Chính từ đó, các nhà nghiên cứu càng muốn tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố đã dẫn đến sự cải thiện này.