CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm, vai trò của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Khái niệm về NHTM khá đa dạng xét theo mỗi quốc gia, mỗi khu vực.
Tại Mỹ: “NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Do vậy, các NHTM còn được gọi là các “Bách hóa tài chính – financial department stores” (Peter Rose, 2002). Tại Trung Quốc, theo quy định của Luật NHTM năm 1995, “NHTM là các bộ phận hợp nhất được thành lập theo bộ Luật Công ty để nhận các khoản tiền gửi từ công chúng, cấp các khoản vay, cung cấp các dịch vụ thanh toán và tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan khác”. Tại Việt Nam, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật số 17/2017/QH14 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng thì “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Trong đó, hoạt động ngân hàng được định nghĩa là việc “kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy, mặc dù cách diễn giải khá đa dạng nhưng các nước trên khắp thế giới đều có cách hiểu tương đối thống nhất về NHTM đứng trên phương diện là các loại hình dịch vụ ngân hàng. Theo đó, “NHTM là một trong những định chế tài chính có khả năng cung cấp đa dạng nhiều loại hình dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội”. Đặc điểm của ngân hàng thương mại NHTM là một tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Do vậy, hoạt động NHTM có những điểm rất khác biệt so với các loại hình dịch vụ khác. Thứ nhất, NHTM là một tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung ứng dịch vụ Ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Trước hết, xét về bản chất, NHTM hoạt động kinh doanh với hai hình thức chính là kinh doanh tiền tệ và cung ứng dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ chính là việc huy động vốn dưới nhiều hình thức, còn hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng chính là cung cấp cho khách hàng các dịch vụ liên quan đến tiền tệ, thanh toán nhằm mục đích thu phí hoặc hoa hồng.
Như vậy, khác với các doanh nghiệp thông thường, NHTM hoạt động trên cơ chế kinh doanh bằng tiền của tổ chức, cá nhân để thu lợi. Thứ hai, hoạt động của ngân hàng thương mại là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện. NHTM phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật. Tại hầu hết các quốc gia, NHTM chỉ được thực hiện một số nội dung hoạt động sau khi có sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền và chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan có liên quan trong quá trình hoạt động.
Bao gồm các điều kiện về vốn và người điều hành, điều kiện về phương án kinh doanh, điều kiện về giám sát quản lý, … được quy định theo Luật các Tổ chức tín dụng. Thứ ba, hoạt động của ngân hàng thương mại là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao. Hoạt động NHTM có mức độ rủi ro cao và mang tính hệ thống, tức là rủi ro của một NHTM có thể dẫn đến những hệ lụy đối với cả hệ thống NHTM. NHTM có vai trò quan trọng dẫn vốn cho nền kinh tế nhờ đặc thù của hoạt động kinh doanh tiền tệ là huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng.
Chính vì vậy, rủi ro đến từ phía ngân hàng dẫn đến rủi ro cho khách hàng vay tiền, người gửi tiền cũng như cho cả nền kinh tế. Vai trò của Ngân hàng thương mại - Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, mở rộng quy mô sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế thì cần thiết phải có vốn. Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá thể trong nền kinh tế. Ngân hàng thương mại đã đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi từ các chủ thể, các thành phần kinh tế và sau đó sử dụng nguồn vốn huy động này, thông qua hoạt động tín dụng, để cung cấp vốn cho các hoạt động kinh tế và đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho quá trình tái sản xuất.
Bằng hoạt động này, ngân hàng thương mại trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh phát triển nền kinh tế. - Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường: Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng trở thành chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường. Ngân hàng có thể thoả mãn nhu cầu vốn cho doanh nghiệp để có thể đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất.để có thể đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
- Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho các ngành nghề trong nền kinh tế, qua hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, ngân hàng thương mại đã thực hiện dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.Ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh sẽ thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô và sẽ thực sự trở thành một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. - Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính tiền tệ: Trong tiến trình mở rộng các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tăng cường nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội với các nước trên thế giới và hoà nhập với nền tài 11 chính quốc tế thì ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy mở rộng ngoại thương qua các nghiệp vụ kinh doanh như huy động vốn, cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác. Và hơn thế nữa, hệ thống ngân hàng đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước vận hành phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài.
Các hoạt động của NHTM Hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm các nghiệp vụ như nhận tiền gửi thông qua việc mở các tài khoản giao dịch cho khách hàng, quản lý tiền mặt tiền tiết kiệm, trao đổi ngoại tệ, cho vay, cho thuê tài chính, tư vấn tài chính các dịch vụ bảo hiểm, môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Có thể nói rằng đây là định nghĩa về dịch vụ ngân hàng khá đầy đủ. Các loại hình dịch vụ ngân hàng bao gồm: - Hoạt động huy động vốn: Theo khoản 13 điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động huy động vốn là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Ngân hàng thương mại được nhận tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; Được phát hành chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.Ngân hàng thương mại được vay vốn của Ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Ngân hàng thương mại được vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. 12 Việc nhận tiền gửi được thực hiện diễn ra liên tục và thường xuyên nhất tại Ngân hàng, việc nhận tiền gửi là một trong những hoạt động giúp cho ngân hàng huy động được nguồn tiền, nguồn vốn để duy trì hoạt động khác của ngân hàng. - Hoạt động cấp tín dụng: Theo khoản 14 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng dưới các hình thức: Cho vay; Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng; Phát hành thẻ tín dụng; Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận.
Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, việc cấp tín dụng cho một tổ chức hay cá nhân được phép sử dụng được hiểu như một giao kết qua lại giữa các bên khách hàng và ngân hàng đó.