CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM QUA TỔ TIẾT KIỆM VÀ VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Tổng quan về Tổ tiết kiệm và vay vốn 1.1 Khái niệm Tổ tiết kiệm và vay vốn Cho đến nay, với mỗi tổ chức tài chính có khái niệm khác nhau về Tổ TK&VV như: Khái niệm của Grameen Bank (GB): Theo Grameem, Tổ TK&VV là một tổ chức gồm những người nghèo, sống trong cùng một khu vực dân cư hoặc một làng xã, có hoàn cảnh kinh tế gần giống nhau để cung cấp dịch vụ tiết kiệm và cho vay theo những quy định mang tính chất bắt buộc về tài chính, cũng như một số quy định khác của ngân hàng và những nguyên tắc xã hội khác. Khái niệm Self-help group (SHG): Theo SHG, Tổ TK&VV là một nhóm tự quản được thành lập bao gồm các cá nhân có điều kiệm kinh tế đồng nhất trên tinh thần tự nguyện đến với nhau để thường xuyên tiết kiệm một khoản tiền nhỏ vào quỹ chung và tìm kiếm các nguồn tài trợ khác. để cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác cho các thành viên theo quy định của pháp luật. Khái niệm chính thức của NHCSXH: Theo NHCSXH, Tổ TK&VV là tổ chức do các tổ chức CT -XH hoặc cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập trên địa bàn hành chính của xã và được UBND cấp xã công nhận bằng văn bản.
Như vậy, Tổ TK&VV là một tổ chức được thành lập trên một địa bàn hành chính (thôn, khu phố, bản, làng.), do các tổ chức CT - XH hoặc cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập và bao gồm một nhóm người tự nguyện tham gia để cùng nhau TK&VV. Tổ TK&VV tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận, làm quen và sử dụng các dịch vụ tài chính khác. Tổ hoạt động trên tinh thần tương trợ lẫn nhau, theo quy chế hoạt động của Tổ TK&VV, quy định của NHCSXH và qui định khác của cơ quan có thẩm quyền.2 Mục đích thành lập Tổ tiết kiệm và vay vốn Đối với GB (Grameen Bank) Bangladesh Thành lập nhóm TK&VV nhằm tập hợp những người nghèo, sống trong cùng một khu vực dân cư hoặc cùng một làng xã, đa phần là phụ nữ, có hoàn cảnh kinh tế gần giống nhau. Bắt đầu bằng cách tổng hợp các khoản tiết kiệm của các thành viên và sau đó sử dụng các khoản tiết kiệm cho vay đối với các thành viên.
Ngoài việc mỗi nhóm phải tuân theo những quy định bắt buộc về tài chính, cũng như một số các quy định khác của ngân hàng, bản thân từng nhóm cũng tự tuân thủ những nguyên tắc xã hội khác. Những quy định đó bao gồm: gia đình sinh ít con, trẻ em đều phải được đến trường, gia đình đoàn kết, các thành viên tương trợ lẫn nhau.Mặc dù có những quy định như vậy, nhưng GB vẫn được biết đến với mô hình ngân hàng cho vay dựa trên sự tin cậy, tin tưởng của ngân hàng đối với các khách hàng của mình (Lê Văn Luyện-Nguyễn Đức Hải, 2013). Đối với SHG (Self-help group) Ấn Độ Thành lập nhóm tự quản từ đa phần là phụ nữ, để thường xuyên tiết kiệm một khoản tiền nhỏ vào quỹ chung. Ngoài ra SHG cũng có sự khác biệt ở chỗ còn tự tìm kiếm các nguồn tài trợ từ các ngân hàng thương mại, các nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, tài trợ của chính phủ.SHG cùng với việc cung cấp các dịch vụ tài chính còn cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe như tiêm vắc xin, thông tin về kế hoạch hóa gia đình, các cơ hội về tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập.Việc cung cấp các dịch vụ đi kèm này cũng một phần là do quy định pháp luật ở quốc gia này, theo đó các nhà cung cấp tài chính vi mô buộc phải mở rộng lĩnh vực dịch vụ ngoài tài chính mà mình cung cấp (Lê Văn Luyện-Nguyễn Đức Hải, 2013).
Đối với NHCSXH Việt Nam Thành lập Tổ TK&VV nhằm tập hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu vay vốn NHCSXH để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh và đời sống; cùng giám sát nhau trong việc vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ ngân hàng. Các tổ viên trong Tổ TK&VV giúp đỡ nhau từng bước có thói quen 8 thực hành tiết kiệm để tạo lập nguồn vốn tự có và quen dần với sản xuất hàng hóa, hoạt động tín dụng tài chính. Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ viên trong việc vay vốn và trả nợ ngân hàng (NHCSXH, 2013) 1.3 Cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn 1.1 Cơ cấu tổ chức của Tổ tiết kiệm và vay vốn Số lượng thành viên của Tổ TK&VV: Mỗi tổ chức quy định số lượng thành viên khác nhau tối thiểu từ 5 và tối đa là 60 thành viên (đối với GB là 5 thành viên, đối với SHG là 10 đến 20 thành viên, đối với NHCSXH từ 5 đến 60 thành viên). Thông thường các Tổ TK&VV cần có từ 15-25 thành viên, số lượng thành viên này phù hợp để cân bằng giữa việc đảm bảo lượng vốn đóng góp chung và việc giữ các cuộc họp trong tầm kiểm soát (NHCSXH, 2013) Số lượng thành viên trên một Tổ TK&VV có sự khác nhau giữa các tổ chức.
Đối với tổ có số lượng thành viên ít thì việc theo dõi, quản lý đơn giản hơn đối với tổ có số lượng thành viên nhiều, tuy nhiên nếu tổ quản lý số thành viên ít thì dư nợ thấp thì thu nhập của Ban quản lý Tổ TK&VV từ hoa hồng, thù lao thấp không đủ bù đắp công sức bỏ ra từ đó không khuyến khích BQL tổ gắn bó lâu dài. Bên cạnh đó, nếu số lượng thành viên nhiều mà mỗi tổ lại ít thành viên thì phải thành lập nhiều tổ dẫn đến công tác quản lý của ngân hàng cũng khó khăn và tốn kém hơn. Do đó số lượng thành viên trên mỗi Tổ TK&VV nhiều hay ít phụ thuộc vào khả năng, năng lực quản lý của BQL tổ và quy định của mỗi tổ chức tài chính. Ban quản lý Tổ TK&VV: điều hành và quản lý Tổ TK&VV là BQL tổ, BQL tổ do tổ viên bầu ra.
Số lượng thành viên BQL tổ là theo quy định của NHCSXH là 2 thành viên và quy định cán bộ ban thường vụ hội trực tiếp quản lý không được tham gia BQL tổ (NHCSXH, 2013), còn đối với các tổ chưc tài chính khác là từ 3 đến 5 thành viên và quy định những thành viên đang làm việc cho các cơ quan công quyền không được ứng cử vào BQL tổ, điều này nhằm tách bạch công tác quản lý, giám sát đối với BQL Tổ TK&VV (Lê Văn Luyện-Nguyễn Đức Hải, 2013).2 Cơ chế hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn Theo NHCSXH, Tổ TK&VV hoạt động theo nguyên tác tập thể, biểu quyết theo đa số, cuộc họp của tổ khi có nội dung biểu quyết thì phải được ít nhất 2/3 số tổ viên dự họp và có ít nhất 2/3 số tổ viên có mặt tại cuộc họp biểu quyết tán thành mới có gia trị thực hiện gồm: kết nạp tổ viên, cho tổ viên ra khỏi tổ, nội dung quy ước hoạt động, bầu tổ trưởng, tổ phó, bình xét cho vay từng hộ. Nội dung cuộc họp tổ phải được lập thành biên bản và thông qua trước khi kết thúc cuộc họp. Trong đó hoạt động tiết kiệm của tổ là việc các tổ viên động viên nhau dành dụm trong chi tiêu để gửi vào ngân hàng để tạo lập nguồn vốn tích lũy trong tương lai.2 Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội 1.1 Đối tượng huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn Đối với sản phẩm tiền gửi tiết kiệm chỉ áp dụng đối với tổ viên Tổ TK&VV, NHCSXH nhận tiền gửi của người nghèo, đối tượng chính sách là các thành viên của Tổ TK&VV. Tổ viên Tổ TK&VV được thành lập và hoạt động theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Tổ TK&VV (NHCSXH, 2013).
Các Tổ trưởng nhận tiền gửi từ các thành viên trong tổ, sau đó hàng tháng hoặc hàng quý nộp cho cán bộ NHCSXH tại Điểm giao dịch xã vào ngày giao dịch xã theo quy định.2 Nguyên tắc hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn Mỗi tổ viên Tổ TK& VV gửi tiền tại NHCSXH được mở và sử dụng một tài khoản tiền gửi không kỳ hạn để thực hiện gửi tiền mặt thông qua BQL Tổ TK& VV theo Hợp đồng uỷ nhiệm giữa NHCSXH với BQL Tổ hoặc trực tiếp gửi tiền mặt tại Điểm giao dịch xã hoặc Trụ sở NHCSXH nơi mở tài khoản tiền gửi hoặc chuyển tiền đến để gửi vào tài khoản tiền gửi. Tổ viên Tổ TK& VV trực tiếp rút tiền mặt tại Điểm giao dịch xã hoặc tại Trụ sở NHCSXH nơi mở tài khoản tiền gửi hoặc đề nghị chuyển khoản thông qua BQL Tổ TK&VV hoặc trực tiếp chuyển khoản tại Điểm giao dịch xã hoặc tại Trụ sở 10 NHCSXH nơi mở tài khoản tiền gửi để trả nợ, trả lãi tiền vay của mình cho NHCSXH. Sau khi không còn nợ NHCSXH, tổ viên có thể rút tiền theo nhu cầu. Tiền gửi của tổ viên Tổ TK&VV được trả lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn tại NHCSXH nơi nhận tiền gửi.
Lãi tiền gửi được tính và trả theo định kỳ hàng tháng.3 Đặc điểm của huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn Khả năng tiếp cận Tiền gửi tiết kiệm qua Tổ TK&VV có ưu điểm là chi phí giao dịch thấp. NHCSXH không tính phí bất kỳ khoản phí dịch vụ hoặc yêu cầu bất kỳ số dư tối thiểu nào đối với người gửi. Hơn nữa, dịch vụ ( gửi tiền và rút tiền) được thực hiện ngay gần nơi ở của khách hàng do đó hầu như khách hàng không phải tốn chi phí đi lại, nhất là đối với những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, bằng cách ủy nhiệm nhận tiền gửi cho các Tổ TK& VV, NHCSXH không cần nhiều nhân viên và cơ sở vật chất ở cấp địa phương.
Mạng lưới rộng lớn Trong số các ngân hàng tại Việt Nam, có thể nói rằng NHCSXH đã có mạng lưới rộng nhất và khả năng tiếp cận cao nhất đến các đối tượng khách hàng mục tiêu. NHCSXH có 63 chi nhánh cấp tỉnh và 629 phòng giao dịch cấp huyện, 10.917 điểm giao dịch xã và 192 nghìn Tổ TK&VV hoạt động tại các thôn, bản.