- Tài liệu luôn được cập nhật, bổ xung qua các năm - Không chia sẻ trên mạng - Bảo vệ không được dùng từ “ em nghĩ là…”, nói luôn đáp án sai cũng được, không dùng những từ ngữ mang hàm ý không chắc chắn - Cùng một vấn đề nhưng quan điểm hay đáp án của mỗi thầy có thể khác nhau - Phần bôi đỏ là những lưu ý tránh sai lầm, hoặc là những câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi tránh nói dài dẫn đến sai bị bắt lỗi PHẦN I KẾT CẤU CÔNG DỤNG CHI TIẾT TRÊN BẢN VẼ Số thứ tự để mục thường trùng với đánh số chi tiết trên bản vẽ để tiện theo dõi 1. Vỏ hộp + Công dụng - Bao kín tránh bụi bẩn - Chứa dầu bôi trơn - Tạo vị trí tương quan giữa các chi tiết lắp trên nó. Ví dụ vị trí tương quan giữa hai lỗ lắp ổ lăn song song với nhau thì 2 trục lắp lên cũng song song với nhau - Là nơi chịu lực chính từ các bộ truyền ( khi lắp hộp giảm tốc xuống nền thì lực tác dụng từ bộ truyền xích, đai… kéo trục cũng như kéo cả vỏ hộp) + sau khi đúc xong cần gia công lại những bề mặt nào - Sau khi đúc xong cần gia công lại các bề mặt lắp ghép. Nguyên nhân do vỏ hộp được chế tạo bằng phương pháp đúc cho nên bề mặt chúng rất không chính xác ( cả về hình dáng hình học muốn tròn đúc xong lại thành méo… lẫn độ nhám bề mặt gọi nôm la là xù xì).
Các bề mặt bao gồm mặt đế hộp để làm 1 chuẩn định vị, bề mặt ghép 2 mặt bích với nhau, lỗ lắp ổ lăn, bề mặt lắp nắp ổ, nắp cửa thăm, taro các lỗ ren vít. - Đã hỏi rãnh này cần gia công không đáp án là không chỗ này đúc xong để vậy dùng luôn. Nó không quan trọng cũng như không nắp ghép với chi tiết nào khác cần độ chính xác, nên không cần gia công lại + tại sao chiều dầy vỏ hộp cần lớn hơn 6 mm - Cái này liên quan đến khả năng điền đầy. Nếu làm vỏ mỏng quá khi đúc có thể bị tắc( mỏng quá bị nguội đông đặc giữ đường) không điền đầy hết kim loại trong khuôn + tại sao chiều dầy vỏ hộp lại tỷ lệ thuận với khoảng cách trục aw ( =0,03a+3) Khi khoảng cách trục tăng lên đồng nghĩa vỏ hộp sẽ to ra.
Suy ra khoảng cách từ tâm trục đến nền lớn hơn. Do đó momen tác dụng lên vỏ lớn hơn nên vỏ hộp cần dầy hơn ( lực tác dụng từ bộ truyền lên trục không đổi cánh tay đòn tăng lên thì momen sẽ tăng theo) + tính K2 K3 để làm gì ( thầy Hải) Để có đủ không gian đưa cờ lê vào tháo đai ốc (hình minh họa trang 216 tập 2) + Chi tiết nào đắt tiền nhất trên bản vẽ lắp tại sao ( thầy Phúc) Vỏ hộp là chi tiết đắt tiền nhất vì nó phải gia công nhiều chỗ nhất + chỗ nào cần gia công chính xác nhất trên vỏ hộp ( thầy Hưng) Các lỗ lắp ổ lăn cần gia công chính xác nhất vì nó ảnh hưởng đến ăn khớp bánh răng. ví dụ khoảng cách giữa lỗ chính là khoảng cách trục nếu nó ngắn hơn thì 2 bánh răng đâm vào nhau kẹt không ăn khớp được. Các lỗ đó không đồng tâm nhau hoặc bị chéo nhau thì ảnh hưởng đến ăn khớp bánh răng….
+ tại sao lại có góc lượn chỗ nắp ổ ( thầy Hưng) Lý thuyết chung chỗ nào cần gia công cắt gọt thì cần nâng nó lên, để lưỡi dao chỉ cắt phần nhô lên. Như vậy sẽ giảm được diện tích cần cắt gọt xuống => tiết kiệm thời gian tiền bạc…. hay còn gọi phân biệt bề mặt gia công và không gia công. Trong công thức tính toán K3=K2-(3.5), 3 đến 5mm chính là phần nâng phân biệt hai bề mặt 2.
Nắp ổ + Công dụng ( thay nắp ổ bằng băng dính để tránh bụi có được không) ( thầy Hải) Chặn hay cố định các chi tiết không cho chúng di chuyển dọc trục, làm kín để tránh bụi bẩn. Như vậy dùng băng dính bị lấy lỗ lắp ổ lăn mới tránh được bụi bẩn, chưa chặn các chi tiết di chuyển dọc trục. Cần bố trí thêm vòng chữ C để chặn ổ lăn ( trang 35 tập 2) + chỗ nào trên nắp ổ cần gia công chính xác nhất ( thầy Phúc) Đường kính ngoài của nắp ổ ( chỗ đút vào lỗ ổ lăn trên vỏ hộp) cần gia công chính xác nhất ( cứ chỗ nào ghi dung sai thì cần yêu cầu gia công chính xác) + Tại sao làm lõm chỗ này ( phân biệt bề mặt gia công và không gia công) 3 Lý thuyết chung tại sao cần làm phẳng bề mặt chỗ tiếp xúc bulong đai ốc Nếu bề mặt tiếp xúc không phẳng hay không vuông góc với đường tâm thân bulong thì bulong sẽ chịu uốn. Ngược lại nếu bề mặt phẳng và vuông góc với đường tâm thì bulong chỉ chịu kéo.
Bulong chịu uốn sẽ dễ gẫy hơn bulong chịu kéo ( công thức tính toán khác nhau, xem phần tính toán mối ghép bulong đai ốc sách chi tiết máy) Do các chi tiết đúng xong bề mặt không phẳng ( đúc phẳng luôn cũng được nhưng chi phí khá đắt, ở đây người ta thường dùng đúc trong khuôn cát), chúng ta cần gia công lại các chỗ tiếp xúc buloong vít…. Để tiết kiệm chi phí thời gian ta chỉ cần gia công vùng mà chỗ lắp buloong đai ốc, gia công vùng vành khăn hoặc ở vị trí bulong nền cũng chỉ khoét một lỗ nhỏ Tóm gọn lại đúc không phẳng=> gia công lại để bulong chịu kéo bền hơn=> cần giảm diện tích cắt gọn chỉ gia công chỗ cần thiết=> thiết kế lồi lõm + tại sao rãnh phớt lại hình thang không phải hình vuông hoặc chữ nhật ( thầy Phúc) 4 Rãnh phớt hình thang sẽ dễ tháo lắp hơn rãnh hình vuông hoặc chữ nhật, nó côn nên cạy nhẹ là nó bung ra + rãnh này để làm gì Vị trí 1 là rãnh thoát dao để tránh va đập trong quá trình tiện bề mặt trụ trên nắp ổ Ví trí 2 để giảm chiều dài cần gia công chính xác xuống( tức là phần làm lõm này được đúc sẵn không gia công, ta chỉ cần gia công phần tiếp xúc lắp ghép), tránh hiện tượng siêu định vị ( chốt trụ dài, chốt trụ ngắn) 3. Phớt + công dụng Nó được làm bằng cao su có công dụn tránh bụi bẩn bay vào bên trong Phương án thay thế phơt trang 49 tập 2 4. Bạc + công dụng Công dụng chinh là cố định khoảng cách giữa hai chi tết máy ( tr6tập2) hay là cố định chi tiết máy theo phương dọc trục Cụ thể ở đây là cố định khoảng cách giữa bánh đai, đĩa xích hoặc khớp nối.( xem đề mình chỗ trục là lắp đai hay xích hoặc khớp nối không được kể bộ truyền ngoài để của mình) với vỏ hộp tránh cho chúng bị tụt vào trong va đập với chi tiết đứng yên là vỏ hộp trong quá trình làm việc.
5 Ngoài ra chúng còn chống mòn cho trục. Mặc dù mối lắp giữ bạc và trục là lắp lỏng nhưng bạc quay cùng trục do bị chi tiết bên ngoài ép vào. Ma sát giữ chỗ tiếp xúc phớt với bạc sẽ bị mòn nếu không có bạc khi mòn hỏng trục cần thay cả trục sẽ tốn kém hơn.( hình minh họa vị trí mòn) + phớt là phi kim bạc là kim loại, có mòn thì mòn phi kim trước. tại sao bạc lại chống mòn cho trục được ? Tốc độ mòn của phi kim sẽ nhanh hơn kim loại nhưng khi thay quá nhiều phớt thì đến một thời gian nào đó bạc sẽ mòn và cần thay bạc.
+ bỏ bạc đi có được không nếu được thì kết cấu bản vẽ thay đổi như nào Bỏ bạc đi cũng được khi đó kéo dài trục từ ổ lăn ra 5. Then + công dụng Cố định chi tiết máy theo phương tiếp tuyến ( trang 5 tập 2 dẫn động) + các giải pháp xử lý khi tính toán then không đủ bền Tăng chiều dài mayo để tăng chiều dài then lên ( tăng nhiều quá cần vẽ lại biểu đồ momen) Chọn sang then khác ví dụ từ then bằng sang then bằng cao 6 Chọn nhiều then hơn bố trí cách đều nhau ví dụ từ 1 then sang 2 then bố trí cách nhau 180 độ Chọn đường kính trục to ra để lấy được then kích thước lớn hơn + việc dùng nhiều then ảnh hưởng thế nào tới sức bền của trục Trục bị thay đổi tiết diện nhiều dẫn đến dễ tập trung ứng suất tại các góc trên rãnh then + lại sao chiều dài then nằm trong khoảng 0,8.0,9 chiều dài mayo ( thầy Hạ) Then càng dài thì càng bền, lấy theo công thức 0,8.0,9 đảm bảo then dài nhất có thể ( then không thể dài vượt cả chiều dài mayo) 6. ổ lăn + công dụng Đỡ trục, cố định bánh răng trong hộp giảm tốc + tại sao lại chọn ổ này thay thế bằng ổ loại khác có được không - Dựa vào tỷ số Fa/Fr so với 0,3, nếu Fa/Fr < 0,3 ưu tiên dùng ổ bi đỡ , lớn hơn hoặc bằng 0,3 dùng ổ bi đỡ chặn hoặc ổ đũa côn (xem thêm trang 212 tập 1). Như vậy quan điểm do có lực dọc trục nên dùng ổ bi đỡ chặn là sai lầm.
- Việc thay thế ổ lăn cần dựa vào sự tương đồng về khả năng tiếp nhận lực hoặc tâm , lực dọc trục hoặc cả lực hướng tâm lực dọc trục. ví dụ bộ truyền răng thẳng lực dọc trục Fa=0 đang dùng ổ bi đỡ thì chuyển sang ổ đũa trụ, ổ bi đỡ chặn hoặc ổ đũa côn đều được. Tất nhiên các loại ổ kia dùng không tốt bằng ổ bi đỡ nhưng thay thế thì vẫn được. ổ bi đỡ chặn, ổ đũa côn vừa tiếp nhận lực dọc trục vừa tiếp nhận lực hướng tâm, nên thay thế vào trường hợp ổ bi đỡ chỉ chịu lực hướng tâm vẫn được.
Trường hợp bộ truyền bánh răng nghiêng có lực dọc trục và đang sử dụng ổ bi đỡ chặn thì chỉ thay thế sang ổ đũa côn được. Không thay ổ bi đỡ hoặc ổ đũa trụ thay cho ổ bi đỡ chặn và ổ đũa côn được vì 2 loại ổ này không tiếp nhận lực dọc trục 7 + ổ này được bố trí theo kiểu chữ O hay chữ X khi nào dùng O khi nào dùng X Chữ O hay X là khái niệm dùng cho ổ bi đỡ chặn hoặc ổ đũa côn còn riêng trường hợp bản vẽ đang dùng ổ bi đỡ thì không gọi như vậy( tức là không có O hay X).