CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH SINH HOẠT 1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt. Khái niệm hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt. Để có những nhận thức về khái niệm HĐCCN sạch sinh hoạt trước hết cần tìm hiểu khái niệm hợp đồng.
Trong đời sống hằng ngày của chúng ta phát sinh rất nhiều các quan hệ dân sự mà nó cũng liên quan đến hợp đồng như hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ, hợp đồng cho thuê tài sản, hợp đồng tư vấn dịch vụ… những loại hợp đồng khác nhau được ký kết, giao dịch cũng dựa trên những quy định chung của hợp đồng. Các Mác đã nói: “bản chất của con người là tổng hòa tất cả quan hệ xã hội” [22]. Thật vậy con người không thể tồn tại và phát triển khi không có mối quan hệ với nhau và khi có các mối quan hệ với nhau đặc biệt là về trao đổi hàng hóa thì con người cần có một hợp đồng để đảm bảo lợi ích của nhau. Từ điển tiếng Việt năm 2000 định nghĩa hợp đồng là “giấy cam kết giữa hai hoặc nhiều người để làm việc gì” [19].
Từ điển Hán Nôm Nguyễn Quốc Hùng ghi nhận hợp đồng là “tờ giấy làm bằng, ghi sự thỏa thuận của đôi bên về việc gì” [19]. Từ điển Luật học được biên soạn dựa trên các quy định của pháp luật dân sự, xuất bản năm 1999 ghi nhận hợp đồng là “sự thỏa thuận của các bên có tư cách pháp nhân hoặc giữa những người có đầy đủ năng lực hành vi nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên” [19]. Với những định nghĩa như trên cho ta thấy được điểm chung bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nhưng về hình thức thì định nghĩa của Luật học rộng hơn nó được thể hiện không chỉ được thể hiện ở dạng văn bản mà còn thông 7 luan an qua nhiều hình thức khác như lời nói, hành vi hay các hình thức khác. Với cách định nghĩa như vậy cho thấy sự mở rộng của thuật ngữ hợp đồng để hòa hợp pháp luật quốc tế và xu thế hội nhập.
Điều 385 BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, từ khái niệm trên có thể rút ra khái niệm hợp HĐCCN sạch sinh hoạt như sau: “hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt là sự thỏa thuận giữa hai bên (bên cung cấp nước sạch sinh hoạt và bên có nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt), về việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của hai bên, căn cứ để phát sinh, chấm dứt hay thay đổi giữa hai bên trong hoạt động cung cấp nước sạch sinh hoạt”. Đặc điểm của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt. Từ những phân tích trên cho ta thấy HĐCCN sạch sinh hoạt có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, HĐCCN sạch sinh hoạt là sự thỏa thuận giữa hai bên, sự thỏa thuận đó phải thống nhất ý chí và nó phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong đó, sự thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng được biểu hiện thông qua một bên là đơn vị cung cấp nước sạch sinh hoạt bên còn lại là tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng nước. Đồng thời, sự thỏa thuận giữa hai bên trong quan hệ này phải thống nhất ý chí với nhau nếu một trong hai bên không thống nhất ý chí với nhau thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực đối với các bên. Tuy nhiên, sự thống nhất ý chí của hai bên không phải lúc nào cũng hình thành hợp đồng được pháp luật công nhận mà sự thống nhất ý chí đó phải dựa trên cơ sở tự nguyện, có 8 luan an thỏa thuận với nhau và những thỏa thuận thống nhất ý chí đó còn phải phù hợp với quy định của pháp luật. Thứ hai, HĐCCN sạch sinh hoạt là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý.
Nó xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ trên. Khi HĐCCN sạch sinh hoạt được ký kết thì nó sẽ xác lập, thay đổi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, ràng buộc các bên khi tham gia quan hệ này như BCCN phải có nghĩa vụ cung cấp nước sạch đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, việc cung cấp nước sạch phải liên tục…, BSDN phải có nghĩa vụ đóng tiền nước hàng tháng, có trách nhiệm bảo quản đồng hồ nước…. Tuy nhiên, khi tham gia bất kỳ một quan hệ nào không chỉ trong HĐCCN sạch sinh hoạt các bên cũng có quyền chấm dứt quan hệ này khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng hoặc một bên không còn nhu cầu tham gia vào quan hệ này nữa. Thứ ba, nội dung của hợp đồng là quyền và nghĩa vụ mà các bên tham gia trong quan hệ HĐCCN sạch sinh hoạt quy định cho nhau.
Những nội dung do hai bên quy định cho nhau phải đảm bảo quyền lợi của các bên đồng thời những nội dung đó phải phù hợp với quy định của pháp luật. Thứ tư, mục đích của HĐCCN sạch sinh hoạt. Trong quan hệ này thì mục đích của hai bên sẽ khác nhau thể hiện thông qua BCCN sạch sinh hoạt mong muốn bán được nước sạch sinh hoạt của mình và thu được lợi nhuận còn BSDN sinh hoạt lại mong muốn có được nguồn nước đạt tiêu chuẩn đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Bản chất của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt và những ảnh hưởng của nó đến quyền tự do ký kết hợp đồng.
Bản chất của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt. Mỗi tổ chức, cá nhân khi tham gia vào bất kỳ quan hệ nào cũng mong muốn đạt được lợi ích nhất định và cũng cần có một cái gì đó để đảm bảo cho những thỏa thuận, mong muốn của mình đạt được đồng thời phải có sự an toàn cho mình khi có tranh chấp xảy ra. Vì vậy, các bên khi tham gia vào quan hệ trên thường lựa chọn hình thức hợp đồng và đưa ra các đề nghị để cùng nhau soạn thảo hợp đồng, để thống nhất những nội dung trong hợp đồng được ký kết của hai bên. Trong quan hệ cung cấp nước sạch cũng không ngoại lệ khi hai bên tham gia vào quan hệ này đều mong muốn có một cái gì đó để bảo vệ họ khi xảy ra tranh chấp hoặc là đảm bảo rằng bên kia phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trước đó.
Vì vậy, HĐCCN sạch sinh hoạt đã ra đời hay còn gọi là hợp đồng dịch vụ cung cấp nước. Theo quy định tại Điều 513 BLDS 2015 thì: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ”. Như khái niệm được nêu ở trên thì trong hoạt động cung cấp nước sạch sinh hoạt hai bên giao kết hợp đồng phải có sự thỏa thuận với nhau nếu như bên nào không đồng ý với các điều khoản ghi trong hợp đồng thì có quyền nêu ra ý kiến của mình và đề nghị bên còn lại chỉnh sửa nội dung của hợp đồng cho phù hợp với ý chí của hai bên. Tuy nhiên, trên thực tế thì mọi cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ trên không có thỏa thuận hoặc thay đổi nội dung của hợp đồng.
Bên sử dụng dịch vụ muốn được sử dụng dịch vụ phải ký kết hợp đồng dựa trên 10 luan an nội dung sẵn có của bên cung ứng dịch vụ làm sẳn và áp dụng với tất cả mọi khách hàng có nhu cầu sử dụng nước. Từ những phân tích trên có thể cho ta thấy được HĐCCN sạch sinh hoạt là hợp đồng dịch vụ, đặc biệt đó là hợp đồng mẫu. Như vậy, để hiểu rõ bản chất của HĐCCN sạch sinh hoạt thì ta phải tìm hiểu về hợp đồng mẫu. Trên thế giới, các quốc gia theo các chế độ khác nhau nên việc sử dụng các quy định và các nguồn để áp dụng pháp luật cũng khác nhau do đó tên gọi và hình thức tồn tại của hợp đồng mẫu cũng khác nhau như một số quốc gia quan niệm đây là hợp đồng mẫu tiêu chuẩn (standard form contract) tức là khi giao dịch dạng hợp đồng này thì nó đã được soạn sẵn, dùng để áp dụng cho mọi đối tượng và không có sự thỏa thuận để thay đổi nội dung của hợp đồng, một số quốc gia khác quan niệm là hợp đồng gia nhập (adhesion contract) tức là khi tham gia vào một quan hệ có sử dụng hợp đồng thì hợp đồng sẽ do một bên soạn sẵn, các nội dung trong hợp đồng sẽ do bên soạn sẵn quyết định còn bên tham gia hợp đồng còn lại chỉ có lựa chọn là tham gia hợp đồng hoặc từ chối tham gia, cũng có một số quốc gia quan niệm là hợp đồng hàng loạt (boilerplate contract).
Một số quốc gia đưa ra định nghĩa hợp đồng mẫu của mình như sau: Hàn Quốc định nghĩa hợp đồng gia nhập: “là những điều khoản và điều kiện chung trong hợp đồng, bất kể mang tên, hình thức hay phạm vi như thế nào, do một bên soạn sẵn bằng một hình thức nhất định nhằm giao kết hợp đồng với số đông người” (Khoản 1 Điều 2 Luật Hợp đồng gia nhập). [17] Điều 3 Luật hợp đồng gia nhập Hàn Quốc quy định: “theo cách được sử dụng phổ biến cho loại hợp đồng này và theo yêu cầu của NTD, phải cung cấp cho NTD một bản của hợp đồng để họ có thể hiểu được nội dung của hợp đồng”. 11 luan an Như vậy, theo quy định trên các doanh nghiệp muốn sử dụng hợp đồng gia nhập cần phải ghi rõ và giải thích nội dung của hợp đồng cho NTD. Luật về hợp đồng gia nhập của Hàn Quốc cũng khẳng định nó được xây dựng trên nguyên tắc thiện chí và với những NTD khác nhau phải có cùng một cách giải thích, đồng thời có những điều khoản không rõ cần giải thích theo hướng có lợi cho NTD.
Trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Đài Loan tại Khoản 9 Điều 2 định nghĩa hợp đồng theo mẫu là: “hợp đồng mà một phần hoặc toàn bộ điều khoản được soạn thảo bởi các doanh nghiệp kinh doanh” [15].