CHƯƠNG 1 NHỮNG NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ HỘI NHẬP TÀI CHÍNH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI 10.1 Lý thuyết bộ ba bất khả thi Bằng cách giả định chu chuyển vốn là hoàn hảo Mundell – Fleming (1963) đã chỉ ra rằng chính sách tài khóa phát huy hiệu quả cao trong cơ chế tỷ giá cố định và chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh dưới chế độ tỷ giá thả nổi. Đóng góp cơ bản của Mundell – Fleming là lý thuyết bộ ba bất khả thi. Lý thuyết này thể hiện rằng: Một quốc gia không thể đồng thời đạt được ba mục tiêu tỷ giá cố định, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ.1: Tam giác bộ ba bất khả thi Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2008) Độc lập tiền tệ mạnh hơn có thể cho phép các nhà hoạch định chính sách ổn định nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ mà không chịu sự quản lý kinh tế vĩ mô của các nền kinh tế khác, do đó khả năng dẫn đến tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững. Tỷ giá hối đoái cố định có thể mang lại ổn định giá cả bằng cách cung ứng neo tỷ giá, và phí bảo hiểm rủi ro thấp hơn bởi sự không chắc chắn giảm nhẹ, từ -6- đó thúc đẩy đầu tư và thương mại quốc tế.
Ngoài ra, tại thời điểm một cuộc khủng hoảng kinh tế duy trì một tỷ giá hối đoái cố định có thể làm tăng độ tín nhiệm của các nhà hoạch định chính sách. Tự do hóa tài chính có lẽ là chính sách gây tranh cãi và tranh luận nóng bỏng nhất trong số các lựa chọn của ba chính sách bộ ba bất khả thi. Một mặt mở cửa thị trường tài chính có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, các nền kinh tế tiếp cận tốt hơn với thị trường vốn quốc tế phải có nội lực ổn định hơn thông qua việc chia sẻ rủi ro và đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Mặt khác, tự do hóa tài chính thường được đổ lỗi cho sự bất ổn kinh tế, đặc biệt là trong hai thập kỷ qua, bao gồm cả các cuộc khủng hoảng hiện tại. Mở cửa tài chính có thể phơi bày các nền kinh tế có dòng vốn chảy vào không ổn định dẫn đến dừng đột ngột lại hoặc đảo chiều của dòng vốn, do đó làm cho nền kinh tế dễ bị tổn thương với các chu kỳ tăng trưởng – suy thoái (Kaminsky và Schmukler, 2002). Thực tế các nền kinh tế đã thay đổi các kết hợp như là một phản ứng đối với cuộc khủng hoảng hoặc các sự kiện kinh tế lớn để ngụ ý rằng mỗi một lựa chọn trong ba chính sách là một túi hỗn hợp cả điểm xấu và tốt (là con dao hai lưỡi) để quản lý tình hình kinh tế vĩ mô. Có ba cách để kết hợp hai trong ba chính sách (ba đỉnh của tam giác tại biểu đồ 1.1), tác dụng của mỗi sự lựa chọn chính sách có thể khác nhau tùy thuộc vào sự lựa chọn chính sách khác kết hợp với nó.2 Những công cụ đo lường chỉ tiêu bộ ba bất khả thi Một thông điệp chính của lý thuyết bộ ba bất khả thi là sự khan hiếm công cụ, các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với một sự đánh đổi.
Tuy nhiên, tính phù hợp của sự đánh đổi giữa ba biến số trong bộ ba chưa được kiểm chứng đúng đắn. Trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả Aizenman, Chinn, Ito (2008) đã khắc phục sự thiếu sót này bằng việc đưa ra một số các tiêu chuẩn đo lường chính sách. Độc lập tiền tệ (MI) được đo lường bằng hàm đảo nghịch của mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở. -7- corr(ii, ij) - (-1) MI = 1- 1 - (- 1) Trong đó: i: quốc gia sở tại, j : quốc gia cơ sở.
Giá trị MI tối đa, tối thiểu tương ứng là 1 và 0. Giá trị này càng cao có nghĩa là chính sách tiền tệ càng độc lập. Ổn định tỷ giá (ERS) tính toán dựa trên độ lệch chuẩn hằng năm của tỷ giá hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở.01 + stdev (∆(log(exch – rate)) ERS cho kết quả càng cao thì biểu thị mức độ ổn định của tỷ giá và ngược lại. Hội nhập/ mở cửa tài chính (KAOPEN) Không cần hỏi, thật sự là khó khăn để đo lường mức độ của việc kiểm soát tài khoản vốn.
Mặc dù nhiều các công cụ đo lường hiện nay mô tả mức độ và cường độ của việc kiểm soát tài khoản vốn, các công cụ đo lường như vậy đã thất bại trong việc phản ánh đầy đủ sự phức tạp của việc kiểm soát vốn của thế giới thực. Tuy nhiên, để đo lường độ mở tài chính, chúng ta sử dụng chỉ số độ mở tài khoản, hay KAOPEN, được phát triển bởi Chin và Ito (2006, 2008). KAOPEN được dựa trên thông tin có liên quan đến những hạn chế trong báo cáo hằng năm về cơ chế tỉ giá và hạn chế ngoại hối của IMF (AREAER). Đặc biệt, KAOPEN là thành phần cơ bản chính được tiêu chuẩn hóa đầu tiên của các biến số, KAOPEN cho biết sự hiện diện của đa tỷ giá, những hạn chế các giao dịch tài khoản vãng lai, những hạn chế các giao dịch tài khoản vốn, và yêu cầu của việc từ bỏ nguồn thu xuất khẩu.
Khi KAOPEN dựa vào những hạn chế được báo cáo, nó tất yếu là chỉ số chính thức của mở cửa tài khoản vốn tương phản với những chỉ tiêu thực tế nhưng không chính thức như là trong Lane and Milesi-Ferretti ( 2006). Việc lựa chọn chỉ số chính thức của mở cửa tài khoản vốn được thực hiện bởi việc nhận ra mục tiêu chính sách của -8- quốc gia; những chỉ tiêu thực tế nhưng không chính thức kết hợp cả những cú sốc vĩ mô cũng như là những quyết định chính sách đối với kiểm soát vốn. Chỉ số Chin-Ito (KAOPEN) được tiêu chuẩn hóa trong khoảng biến thiên giữa 0 và 1. Giá trị càng cao của chỉ số này cho thấy quốc gia mở cửa hơn với những giao dịch vốn xuyên quốc gia.
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh được rằng tổng tỷ trọng của ba chỉ số trong bộ ba bất khả thi là một hằng số. Do vậy, các quốc gia không thể nào đạt được cùng lúc ba mục tiêu chính sách vĩ mô, sự thay đổi của một nhân tố sẽ dẫn đến thay đổi ngược chiều trong trung bình có tỷ trọng của hai nhân tố còn lại. Tác động của tự do hóa tài khoản vốn đến tăng trưởng kinh tế Để phân tích tác động của tự do hóa tài khoản vốn đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tác giả sử dụng mô hình sau: REAL_GDPt = α + β1FDIt + β2OPENt + β3GEt + εt Trong đó: REAL_GDP: Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam FDI: Luồng vốn FDI giải ngân từ các nhà đầu tư nước ngoài OPEN: Mức độ mở cửa nền kinh tế, là tỷ lệ của tổng xuất khẩu và nhập khẩu GE: Chi tiêu chính phủ ε : Độ nhiễu 10.3 Dự trữ ngoại hối và mức độ hội nhập tài chính Quá trình toàn cầu hóa tài chính là bằng chứng cho thấy mức độ hội nhập tài khoản vốn của các quốc gia ngày càng gia tăng. Trong khi, lý thuyết cổ điển của bộ ba bất khả thi không thể hiện vai trò của dự trữ ngoại hối thì xu hướng gần đây đã thể hiện một mối quan hệ chặt chẽ giữa dự trữ ngoại hối và sự thay đổi trong mẫu hình bộ ba bất khả thi ở các nước đang phát triển.
-9- Các tài liệu gần đây tập trung vào các hiệu ứng tiêu cực của quá trình hội nhập tài chính ngày càng sâu sắc ở các quốc gia đang phát triển, đó là sự gia tăng dòng vốn ngắn hạn và không ổn định, dòng vốn dễ dàng đảo chiều và rút ra khỏi các quốc gia này một cách đột ngột (theo Calvo 1998). Những bằng chứng thực nghiệm thể hiện rằng dự trữ ngoại hối có thể làm giảm cả nguy cơ dòng vốn chuyển hướng bất ngờ cũng như làm giảm mức độ nghiêm trọng của các cú sốc về sản lượng trong khi dòng vốn đảo chiều. Aizenman và Lee (2007) đã liên kết yếu tố dự trữ ngoại hối và mức độ hội nhập tài chính của các quốc gia đang phát triển và tìm ra bằng chứng cho thấy rằng dự trữ ngoại hối có thể chống lại khả năng xảy ra các sự kiện dừng đột ngột của dòng vốn. Bằng các phân tích thực nghiệm nhằm tìm ra các nhân tốt quyết định đến sự thay đổi trong dự trữ ngoại hối của hơn 100 quốc gia trong suốt thời kỳ 1975- 2004, Chueng và Ito (2007) thấy rằng mở cửa thương mại là nhân tố duy nhất đáng giá trong hầu hết các nhân tố kỷ thuật được xem xét, tuy nhiên khả năng giải thích của nó lại giảm dần theo thời gian.
Ngược lại, khả năng giải thích của các nhân tố tài chính lại tăng dần. Tầm quan trọng của hội nhập tài chính ngày càng tăng và dần trở thành một nhân tố quyết định đến kho dự trữ ngoại hối của các quốc gia. Điều này cho thấy mối liên hệ giữa sự thay đổi trong mẫu hình của bộ ba bất khả thi và độ lớn của dự trữ ngoại hối. Obstfeld cùng đồng sự (2008) tìm ra rằng độ lớn của các khoản nợ trong nước có thể chuyển đổi thành ngoại tệ (M2), độ mở cửa tài chính, khả năng tiếp cận ngoại tệ thông qua các thị trường nợ và chính sách tỷ giá hối đoái là tất cả các chỉ báo quan trọng của dự trữ ngoại hối toàn cầu.
Aizenman, Chinn và Ito (2008) đã bắt đầu xây dựng theo cách đơn giản và trực quan để tổng hợp những xu hướng này thông qua mô hình “Đồ thị kim cương” (“Diamond chart”). Xây dựng cho mỗi quốc gia một vector bao gồm bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối để đo lường mức độ độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, dự trữ - ngoại tệ và hội nhập tài chính. Những tiêu chuẩn này giao động từ 0 đến 1. Mẫu hình mà mỗi quốc gia đạt được trong một khoảng thời gian được thể hiện bằng biểu đồ kim cương tổng quát với 4 đỉnh tượng trưng cho ba cạnh bộ ba bất khả thi và đỉnh còn lại là dự trữ ngoại hối IR/GDP.
Kể từ cuộc khủng hoảng châu Á 1997-1998, các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là ở Đông Á và Trung Đông có sự gia tăng nhanh chóng lượng dự trữ ngoại tệ. Trung Quốc là quốc gia nắm giữ dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, hiện đang nắm giữ khoảng 2 nghìn tỷ USD, chiếm 30% của tổng số thế giới.