phần mở đầu, kết luận, sơ đồ, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Trung ƣơng đối với các Ngân hàng Thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát của Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hà Nội đối với các Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần. Chƣơng 3: Giải pháphoàn thiện công tác thanh tra, giám sát của Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hà Nội đối với các Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần trên địa bàn. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG 1. Khái niệm, vị trí Ngân hàng Trung ƣơng Ngân hàng trung ƣơng là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nƣớc về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. NHTW có nguồn gốc từ các ngân hàng phát hành. Cho đến đầu thế kỷ 20, các ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tƣ nhân.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do ảnh hƣởng của những bài học kinh nghiệm từ cuộc Đại suy thoái năm 1929 - 1933 cũng nhƣ sự phát triển của các học thuyết kinh tế của Keynes (vào cuối những năm 1930) và Milton Friedman (năm 1960) về sự cần thiết của vai trò quản lý vĩ mô của nhà nƣớc đối với nền kinh tế và ảnh hƣởng của khối lƣợng tiền cung ứng đối với các biến số kinh tế vĩ mô, các nƣớc đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng phải thành lập một NHTW đóng vai trò quản lý lƣu thông tiền tệ, tín dụng và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia. Các NHTW đƣợc thành lập hoặc bằng cách quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hiện có hoặc thành lập mới thuộc quyền sở hữu của nhà nƣớc. Các nƣớc tƣ bản phát triển có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đời nhƣ Pháp, Anh. thì thành lập NHTW bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng phát hành thông qua mua lại cổ phần của các ngân hàng này rồi bổ nhiệm ngƣời điều hành.
Một số nƣớc tƣ bản khác thì Nhà nƣớc chỉ nắm cổ phần khống chế hoặc vẫn để thuộc sở hữu tƣ nhân nhƣng Nhà nƣớc bổ nhiệm ngƣời điều hành. 5 Tại Việt Nam, NHTW là Ngân hàng đƣợc thành lập thuộc sở hữu của nhà nƣớc, trực thuộc Chính phủ, đƣợc gọi là Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nƣớc) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ƣơng của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. NHNN có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nƣớc, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.
Chức năng của Ngân hàng Trung ƣơng Ngân hàng trung ƣơng thực hiện hai chức năng cơ bản: là ngân hàng của quốc gia và thực hiện chức năng quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn cho cả hệ thống ngân hàng, qua đó mà thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. NHTW thực hiện các chức năng này thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh song tính chất kinh doanh chỉ là phƣơng tiện nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý chứ không phải là mục đích của NHTW. Nói cách khác, mục đích hoạt động của NHTW không phải là mƣu tìm doanh lợi mà là ổn định lƣu thông tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế.1 Chức năng ngân hàng của quốc gia a. Ngân hàng phát hành tiền: Ngân hàng Trung ƣơng đƣợc giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc đƣợc chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành.) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lƣu thông tiền tệ của quốc gia.
Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền lƣu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cƣỡng chế lƣu hành, vì vậy mọi ngƣời không có quyền từ chối nó trong thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định số lƣợng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng nhƣ phƣơng thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. Ngân hàng của các ngân hàng: Ngân hàng trung ƣơng không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian. Bao gồm: Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian dƣới dạng Tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dƣới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ.
Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung gian không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trƣớc có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW; Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian: Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vƣợt mức tại NHTW nên chúng có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Khi đó, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian. Ngân hàng của chính phủ: Là một định chế tài chính công cộng, NHTW đã đƣợc xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của chính phủ. Với chức năng này, NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ, đồng thời làm đại lý, đại diện và tƣ vấn chính sách cho chính phủ.Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng Đây là chức năng quyết định bản chất ngân hàng trung ƣơng của một ngân hàng phát hành.
Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW. Nói cách khác, NHTW quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ và tín dụng thông qua khả năng kinh doanh của mình. Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để 7 điều tiết và kiểm soát khối lƣợng tiền trong lƣu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm.Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng: Với tƣ cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thƣờng xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm: Đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những ngƣời gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng. HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG 1.
Đối tƣợng, mục đích của Thanh tra, Giám sát Ngân hàng 1. Đối tượng thanh tra của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nƣớc); b) Đối tƣợng thanh tra ngân hàng đƣợc quy định tại Điều 52 Luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, bao gồm cả ngân hàng chính sách và công ty con của tổ chức tín dụng: - Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nƣớc ngoài, tổ chức nƣớc ngoài khác có hoạt động ngân hàng. Trong trƣờng hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nƣớc yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng; - Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải là ngân hàng; 8 - Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nƣớc của Ngân hàng Nhà nƣớc. c) Doanh nghiệp nhà nƣớc do Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc quyết định thành lập; d) Đối tƣợng báo cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng) theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; đ) Tổ chức bảo hiểm tiền gửi; e) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có nghĩa vụ chấp hành các quy định pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nƣớc của Ngân hàng Nhà nƣớc.
Đối tượng giám sát của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng (sau đây gọi chung là đối tượng giám sát ngân hàng) a) Đối tƣợng giám sát ngân hàng đƣợc quy định tại Điều 56 Luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, bao gồm cả ngân hàng chính sách và công ty con của tổ chức tín dụng: Ngân hàng Nhà nƣớc thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài. Trong trƣờng hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nƣớc yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền giám sát hoặc phối hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng. b) Đối tƣợng báo cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; c) Đối tƣợng khác theo quy định của pháp luật. Mục đích của hoạt động Thanh tra,giám sát ngân hàng - Đảm bảo cho các TCTD hoạt động đúng pháp luật của Nhà nƣớc.
Tất cả các nƣớc trên thế giới có hoạt động ngân hàng, thì đều phải có 9 một hệ thống pháp luật để điều chỉnh các hoạt động đó.