CHƯƠNG 1 QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp không phải là một khái niệm mới đối với các ngân hàng. Những tổn thất do rủi ro tác nghiệp đã được phản ánh lê bảng cân đối kế toán của ngân hàng từ nhiều thập kỷ trước. Chúng xảy ra hàng ngày trong ngành ngân hàng. Tuy nhiên, hầu hết các tổn thất đều rất nhỏ và hoàn toàn có thể dự đoán trước và phòng ngừa được.
Ví dụ như lỗi trong khi ghi sổ sách kế toán, lỗi thẻ tín dụng, hay một số thiết bị trong hoạt động ngân hàng bị hỏng… Một số sự kiện có thể gây ra tổ thất rất lờn như các hoạt động kinh doanh chứng khoán trái phép, tham nhũng, làm giả sổ sách hay các yếu tố bên ngoài như thiên tai, hỏa hoạn,… Rủi ro tác nghiệp luôn hiện hữu hâu như trong tất cả các giao dịch và hoạt động của ngân hàng thương mại. Theo Basel II về giám sát ngân hàng, “rủi ro tác nghiệp là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài” [Nguồn: Theo Kloman, Haimes, (1991), Quản trị rủi ro toàn diện]. Trước xu thế hội nhập quốc tế, nền kinh tế trong nước nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đang dần chuyển mình để đón nhận những cơ hội hợp tác phát triển mới. Bên cạnh cơ hội, nhiều rủi ro cũng đang đe dọa đến hoạt động của các ngân hàng trong nước, đặc biệt là sự gia tăng tổn thất do rủi ro tác nghiệp gây ra.
Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải nhanh chóng xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro tác nghiệp hiệu quả cũng như xây dựng một văn hóa quản lý rủi ro đối với 5 toàn bộ cán bộ nhân viên, nhằm đưa ra phương án phòng ngừa rủi ro tác nghiệp cho tương lai. Khái niệm Trong quá trình nghiên cứu và phỏng vần rất nhiều nhà quản trị ngân hàng trên khắp thế giới, BIS (Bank for international settlement) đã đưa ra khá nhiều định nghĩa về rủi ro tác nghiệp. Qua nhiều lần sửa đổi, hiện nay định ngĩa về rủi ro tác nghiệp được chấp nhận rộng rải là: “rủi ro tác nghiệp là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. Rủi ro tác nghiệp bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín” [Nguồn: Hiệp ước Basel III, Các nguyên tắc thức đẩy quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro].
Phân loại Từ khái niệm rủi ro tác nghiệp của BIS ở trên có thể chia thành 4 phần bao gồm: Rủi ro con người Là rủi ro liên quan đến nhân viên của ngân hàng; chẳng hạn như cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng để lập hồ sơ khống để vay vốn, cán bộ ngân hàng nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay mục đích nhận thù lao, cán bộ ngân hàng quản lý khách hàng vay vốn trực tiếp thu nợ gốc và lãi vay ngân hàng nhưng chỉ nộp lãi vào ngân hàng, nợ gốc giữ lại chi tiêu cá nhân, hay như nhân viên thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ dẫn đến hạch toán sai, nhầm lẫn,… Ví dụ: Nhân viên giao dịch phụ trách điểm giao dịch của Ngân hàng X giả mạo chữ ký của khách hàng để rút số tiền lên đến 5 tỷ đồng. Nhân viên của ngân hàng Y chi nhánh Vinh đã sơ suất khi thao tác trên máy tính nên chọn nhầm mã nộp là AUD thay vì VND nên số tiền được chương trình máy tính tự đồng quy đổi thành 48,5 tỷ VND thay vì 4 triệu VND khách hàng nộp vào và được ghi có vào tài khoản 6 khách hàng. Tại Ngân hàng Z, thủ quỹ đã rút 1,28 tỷ đồng và 8,000.00 USD tiền trái phiếu chính phủ trong kho quỹ do nhân viên đó quản lý để mang đi thế chấp lấy tiền chơi cổ phiếu, kinh doanh chứng khoán. Rủi ro hệ thống Là rủi ro có thể xảy ra như nhập dữ liệu sai, kiểm soát thay đổi kém, kiểm soát dữ liệu kém, lỗi lập trình, lỗi dịch vụ, an ninh hệ thống, sự không phù hợp của hệ thống,… Ví dụ: trường hợp của một chủ thẻ do rút tiền tại ATM của 3 ngân hàng khác với ngân hàng phát hành, số tiền thực tế rút là 3 triệu VND nhưng do lỗi hệ thống tài khoản bị trừ mất 9 triệu VND, hay như trường hợp của một chủ thẻ khác rút 2 triệu VND nhưng tiền không ra trong khi đó tài khoản vẫn bị trừ 2 triệu VND.
Rủi ro bên ngoài Là các rủi ro bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và thường do các sự kiện của ngân hàng khác nhưng ảnh hưởng tác động đến ngành như gian lận và trộm cắp bên ngoài, hỏa hoạn, thiên tai, bố trí thuê ngoài không thành công, biểu tình, bạo loạn,… Ví dụ: Ba ngân hàng lớn là Vietcombank, BIDV và ngân hàng Việt Nga đã bị công ty Minh Chí và các công ty con của công ty này lừa vay 400 tỷ động với tài sản đảm bảo được khai khống. Sự việc nay đã cho thấy sự lỏng lẻo, kém cỏi trong hoạt động ngân hàng của các cán bộ tín dụng. Luật ngân hàng, tín dụng đều quy định chặt chẽ việc thanh kiểm tra trước, trong và sau khi vay vốn. Đối với các doanh nghiệp vay vốn như trên thì phải có tài sản đảm bảo, phải xem xét toàn bộ hợp đồng mua bán chứng từ,… có hợp pháp hay không, phải trực tiếp đến nơi kho bãi chứa hàng để kiểm tra.
Nhưng ở đây cán bộ tín dụng đã cố tình bỏ qua các nguyên tắc đó để dẫn tới việc ngân hàng bị kẻ lừa đảo dễ dàng móc túi. Một ví dụ khác về tác động của thiên tai: Cách đây vài năm, một ngân hàng đã lâm vào tình huống “dở khóc dở cười” khi tài sản đảm bảo là nhà đất của một 7 khoản vay trôi theo một vụ sạt lở đất. Ngân hàng chỉ còn cách chấp nhận mất khoản vay đó, bởi người vay không có khả năng trả nợ mà tài sản đảm bảo nay đã biến mất. Tương tự, vụ sạt lở đất tại Thanh Đa (Quận Bình Thạnh, TPHCM), sạt lở đất tại Chợ Mới An Giang đã chôn vùi vào lòng song hàng chục căn hộ và cũng cuốn trôi theo khối tài sản không nhỏ của ngân hàng được dung thế chấp vay vốn.
Rủi ro pháp lý Là rủi ro từ sự không rõ ràng của các hoạt động pháp lý hoặc không rõ ràng trong việc áp dụng và hiểu các hợp đồng, luật hay quy chế. ở một số nước, rủi ro pháp lý bắt nguồn từ sự không rõ ràng của quan điểm pháp lý. Ví dụ: Trong việc sử dụng tài sản đảm bảo: chẳng hạn như hiện tại nhà và đất được quản lý riêng, nhà do bộ xây dựng quản lý theo Luật nhà ở, đất do Bộ Tài nguyên và môi trường quản lý theo Luật đất dai. Từ năm 2003, luật đất đai có hiệu lực song Luật nhà ở đến ngày 1/7/2006 mới có hiệu lực.
Điều này dẫn đến trường hợp co ngân hàng cho vay, tài sản thế chấp là 450 m² đất ở khu vực khá đắt đỏ ở Hà Nội của bên thứ ba. Sau một thời gian, bên thế chấp xây một biệt thự trên đất đó. Khi khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng muốn xử lý tài sản thế chấp nhưng không được, bởi hợp đồng thế chấp chỉ có tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở vẫn thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba và bên này không thế chấp nhà hay tài sản gắn liền với đất. Không có cách nào để “bê” biệt thự đi nơi khác, ngân hàng đành “làm ngơ” đối với khoản vay trên.
Đáng nói là, đến nay ngân hàng vẫn chưa nhận thức được rủi ro này để đưa những điều khoản về nhận cả tài sản hình thành trên đất trong tương lai vào hợp đồng. Ngược lại, cũng có những khách hàng chỉ thế chấp nhà mà không thế chấp đất và hậu quả là ngân hàng lâm vào tình huống tiến thoái lưỡng nan, khi mà tài sản đảm bảo tuy có và ngân hàng toàn quyền xử lý, nhưng chỉ có điều ngân hàng không có cách nào xử lý được. Bởi lẽ, tài sản đảm bảo là khung nhà xưởng của một doanh 8 nghiệp và ngân hàng không có cách nào bán được do không có ai mua. Thậm chí ngân hàng còn bị khu công nghiệp giục đến lấy nhà xưởng về để trả đất thuê cho khu công nghiệp.
Chẳng biết mang nhà xưởng về đâu, ngân hàng đành coi như mất. Quản lý rủi ro tác nghiệp Quản lý RRTN theo định nghĩa của Basel thì được xác định dựa trên nguyên nhân gây ra rủi ro. Do đó, Quản lý RRTN đồng nghĩa với việc quản lý các nguyên nhân gây ra RRTN này, tức là quản lý về mọi mặt, mọi hoạt động trong ngân hàng, về cán bộ ngân hàng, về quy chế, quy trình nghiệp vụ, hệ thống công nghệ thông tin, các yếu tố tác động từ bên ngoài, …và cả các sự kiện sắp xảy ra mà ta có thể dự báo trước… Khái niệm: Quản lý rủi ro tác nghiệp là quá trình xác định phạm vi, thiết lập bộ máy, cơ cấu tổ chức, các chính sách, trách nhiệm quản lý, sử dụng các nguồn lực, công cụ quản lý để nhận diện, đánh giá/đo lường, đưa ra các giải pháp nhằm phòng ngừa/giảm thiểu và giám sát/báo cáo các rủi ro tác nghiệp đã được xác định. Mục tiêu của QLRRTN: Hạn chế, giảm thiểu các chi phí, tổn thất có thể xảy ra từ các hoạt động tác nghiệp; Giảm vốn dành cho RRTN, tăng thêm nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh; Bảo vệ uy tín của ngân hàng, đạt mục tiêu hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả.
Theo các nhà nghiên cứu ở một số nước tiên tiến đã tính toán ảnh hưởng định tính bị mất vì RRTN trong các ngân hàng thông thường là 10% lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh. Ngoài ra RRTN còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.