Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động sáp nhập, mua lại và hợp nhất của hệ thống NHTM. Chương 2: Thực trạng của hoạt động sáp nhập, mua lại và hợp nhất của hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2011-2016 Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao trò của hoạt động sáp nhập, mua lại và hợp nhất trong hệ thống Ngân hàng thương mại giai đoạn 2017-2020. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, MUA LẠI VÀ HỢP NHẤT (M&A) TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và các hình thức của sáp nhập, mua lại và hợp nhất 1.
Khái niệm và lý do thực hiện M&A 1. Khái niệm Trong Tiếng Anh, thuật ngữ M&A là Mergers (sáp nhập, hợp nhất) và Acquisitions (mua lại), thuật ngữ này xuất hiện khá nhiều tại các tài liệu nghiên cứu ở trong nước và quốc tế. Trên thế giới, có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ M&A. Ở Việt Nam, ngoài việc được dịch là “sáp nhập và mua lại”, Mergers and Acquisitions còn được dịch là “mua lại và sáp nhập”, “mua bán và sáp nhập” hay “thâu tóm và hợp nhất”…để chỉ hoạt động kinh doanh và quản trị nhằm đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp (DN) và tăng giá trị cho cổ đông.
Theo quan điểm của Andrew J. Sherman và Milledge A. Hart (2006), hoạt động mua bán và sáp nhập sẽ bao gồm hoạt động sáp nhập/hợp nhất và hoạt động mua lại/thâu tóm. Sherman cho rằng sáp nhập là sự kết hợp giữa hai hay nhiều công ty mà qua đó tài sản và nghĩa vụ của công ty bán được chuyển giao sang cho công ty mua.
Thâu tóm/mua lại là việc mua lại một tài sản, ví dụ như một nhà máy, một chi nhánh hoặc thậm chí cả một công ty nhằm mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm. Quy định số 139/2004 ngày 20/01/2004 về sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu đã định nghĩa sáp nhập như sau: (i) Sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; (ii) Thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứng khoán hoặc tài sản của một công ty khác; (iii) Tạo ra một liên doanh mới. Tại Việt Nam, Luật cạnh tranh (2004) đã quy định về khái niệm sáp nhập và mua lại doanh nghiệp như sau: - Sáp nhập doanh nghiệp: “là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại doanh nghiệp bị sáp nhập”. 8 - Mua lại doanh nghiệp: “là việc một doanh nghiệp mua lại toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.
Tại Điều 4, Thông tư số 04/2010/TT-NHNN [22] quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng như sau: - Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, quyền lợi và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập”. - Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số công ty cùng loại (gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là tổ chức tín dụng nhận hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất”. - Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại). Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại.
Đặc điểm chung của hoạt động sáp nhập, mua lại và hợp nhất (M&A) hay mua bán và sáp nhập là tạo cho doanh nghiệp mới hình thành có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị riêng lẻ của một doanh nghiệp ban đầu. Do vậy, khái niệm mua bán, sáp nhập hay sáp nhập, mua lại và hợp nhất chỉ mang tính chất tương đối, điều quan trọng nhất là bản chất của hoạt động M&A. Đặc điểm chung của hoạt động M&A là tạo cho doanh nghiệp (DN), ngân hàng (NH) mới hình thành có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị riêng lẻ của một DN ban đầu. Do vậy, khái niệm M&A chỉ mang tính chất tương đối, điều quan trọng nhất là bản chất của hoạt động M&A.
Lý do thực hiện M&A Hoạt động M&A nói chung và M&A trong lĩnh vực NH nói riêng mang rất nhiều lợi ích cho hệ thống NH và nền kinh tế. Hoạt động M&A nhằm góp phần gia tăng mức độ năng động của thị trường tài chính (TTTC), giảm bớt những DN và NH làm ăn kém hiệu quả, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế. Do đó, có rất nhiều lý do thực hiện M&A, cụ thể như sau: 9 Động cơ bên mua: (i) Mở rộng kinh doanh theo chiều dọc (vertical): đó là việc công ty có thể nắm được toàn bộ hoặc một phần chuỗi cung ứng từ đó nắm được những lợi ích cho đầu ta hoặc đầu vào sản phẩm; (ii) Giảm chi phí kinh doanh: hoạt động M&A giúp cho bên mua giảm bớt các chi phí trong quá trình kinh doanh; (iii) Nguồn lực tương hỗ (complementary resource): hoạt động M&A sẽ góp phần tận dụng và chia sẻ những nguồn lực sẵn có; (iv) Đa dạng hóa khu vực địa lý và lĩnh vực kinh doanh: động cơ này nhằm mục đích đem lại cho công ty một kết quả thu thập ổn định, từ đó tạo sự tự tin cho NĐT khi đầu tư vào công ty; (v) Bán chéo (cross selling): các công ty có thể tận dụng khai thác các dịch vụ của nhau để tăng thêm tiện ích cho khách hàng từ đó tăng thu nhập, hoặc bảo vệ mối quan hệ với khách hàng; (vi) Động cơ về thuế (Taxes): một công ty đang kinh doanh có lời có thể mua lại một công ty thua lỗ, từ đó sẽ hưởng được khoản thuế khấu trừ. Động cơ bên bán Ngoài ra, họ còn có một số động cơ khi tham gia vào thị trường M&A như: đối mặt với sức ép cạnh tranh trên thị trường, đề nghị hấp dẫn từ phía bên mua, tìm đối tác chiến lược và một số động cơ khác.
Động cơ tìm đối tác chiến lược thể hiện sự chủ động của bên bán, nhằm bảo vệ mình trước làn sóng hội nhập và tự do hóa thương mại. Như vậy, lý do và mục tiêu của M&A là giành quyền kiểm soát DN, NH và tham gia vào hoạt động điều hành, quản lý DN, NH ở mức độ nhất định, không đơn thuần là sở hữu một phần vốn góp hay nắm giữ cổ phần như hoạt động đầu tư thông thường. Do vậy, khi nhà đầu tư (NĐT) đạt được mức sở hữu cổ phần của NH đủ để tham gia, và có quyền đưa ra các quyết định tới các vấn đề quan trọng của NH. Các hình thức và quy trình thực hiện M&A 1.
Các hình thức M&A a) Theo mục tiêu của M&A M&A theo chiều ngang (horizontal M&A): là hoạt động diễn ra đối với hai DN cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường. M&A theo chiều dọc (vertical M&A): là hoạt động M&A giữa các DN, NH tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thị trường, nhằm giảm chi phí giao dịch và các chi phí khác. M&A mở rộng thị trường (market extension M&A): là hoạt động diễn ra đối với hai DN bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau. 10 M&A mở rộng sản phẩm (product extension M&A): là hoạt động sáp nhập diễn ra đối với hai DN bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường.
M&A theo kiểu tập đoàn, kết khối (pure conglomerate): Hình thức này là sự liên kết giữa các DN trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và không có liên quan, nhằm giảm cơ bản rủi ro nhờ đa dạng hóa và để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, tài nguyên. Lợi ích của M&A là hình thành các tập đoàn nhằm giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa, tiết kiệm chi phí gia nhập thị trường và đạt được lợi nhuận gia tăng nhờ có nhiều sản phẩm dịch vụ. b) Theo loại hình giao dịch M&A theo kiểu thân thiện (Friendly): là hình thức ban quản trị công ty mục tiêu hay công ty bị mua lại) đồng thuận và ủng hộ trong giao dịch mua lại đó. Các thương vụ M&A này thường xuất phát từ lợi ích chung của cả hai bên.
M&A theo kiểu thù nghịch – M&A bất hợp tác (Hostile): là hình thức ban quản trị của công ty mục tiêu không đồng ý và sử dụng các biện pháp nhằm chống lại sự thâu tóm, mua lại từ phía công ty đi mua. Quy trình cơ bản thực hiện M&A Nhìn chung, quy trình M&A là mối quan tâm rất lớn của tất cả các NH, DN khi có ý định sử dụng giải pháp tài chính này. Vì vậy, quy trình M&A được chia thành những bước cơ bản sau: (1) Đánh giá ban đầu tình hình kinh doanh của NH, DN Bất cứ NH, DN nào khi thực hiện M&A, bước đầu tiên của quy trình là NH, DN tiến hành xem xét, đánh giá tình hình tài chính của NH, DN mình và NH, DN mục tiêu và nghiên cứu tính pháp lý hiện tại, xem xét, đánh giá giá trị thị trường tương lai, tính pháp lý của giao dịch mua bán. Các NH, DN dự định mua một NH, DN khác tiến hành phân tích tình hình kinh doanh của Nh, DN mục tiêu bao gồm: nguồn vốn, cơ cấu tổ chức, giá trị thương hiệu, tính hợp pháp của hoạt động mua bán NH, DN.
(2) Lập kế hoạch và đề xuất các phương án M&A Sau khi xem xét, phân tích đầy đủ tình hình kinh doanh hiện tại của các bên, DN bên mua sẽ tiến hành lập kế hoạch và các phương án sáp nhập, hợp nhất và mua lại.