CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP THÔNG TIN TÍN DỤNG THỂ NHÂN 1. Thông tin tín dụng thể nhân và hoạt đông cung cấp thông tin tín dụng thể nhân 1. Khái niệm Thể nhân: Trong luật học, thể nhân hay tự nhiên nhân là một con người có thể cảm nhận được thông qua các giác quan và bị các quy luật tự nhiên chi phối, ngược lại với pháp nhân, là một tổ chức nào đó, mà vì một số mục đích nhất định thì luật pháp xem như là một cá nhân tách biệt với các thành viên và/hoặc chủ sở hữu của nó.
Thể nhân trong hoạt động thông tin tín dụng chính là đối tượng khách hàng vay là cá nhân/Hộ kinh doanh cá thể. Tín dụng thể nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân/ Hộ kinh doanh cá thể trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ mục đích kinh doanh đối với hộ kinh doanh cá thể. Thông tin tín dụng thể nhân là các thông tin về khách hàng vay và những thông tin liên quan đến khách hàng vay là cá nhân/ Hộ kinh doanh cá thể tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hoạt động cung cấp thông tin tín dụng thể nhân là khâu cuối cùng của hệ thống TTTD, nó phải được áp dụng kỹ thuật tin học hiện đại như mạng máy tính, internet để đưa sản phẩm thông tin đến tay người sử dụng đảm bảo an toàn, nhanh chóng, chính xác.
Các sản phẩm thông tin cung cấp ra là kết quả của quá trình phân tích, xử lý thông tin, có vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định chất lượng hoạt động cung cấp thông tin. Yêu cầu với các sản phẩm đầu ra là nội dung phong phú, chất lượng đảm bảo và kịp thời. 8 Về nội dung, sản phẩm TTTD thể nhân phải bao gồm thông tin về khách hàng vay (hồ sơ pháp lý, tình hình tài chính, khả năng thanh toán, quan hệ tín dụng, tài sản bảo đảm tiền vay…) 1. Các chủ thể liên quan đến hoạt động thông tin tín dụng Có 4 bên liên quan đến hoạt động thông tin tín dụng, được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Các bên tham gia vào hoạt động thông tin tín dụng Nguồn: IFC Chủ thể dữ liệu, các bên cung cấp dịch vụ, các bên cung cấp dữ liệu, người dùng có quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động thông tin tín dụng và chịu ảnh hưởng bởi các cơ quan có thẩm quyền, cơ quan quản lý, cơ quan giám sát.
Một đối tượng có thể vừa là bên cung cấp số liệu, vừa là người sử dụng số liệu, ví dụ các tổ chức tín dụng, vừa là nguồn cung cấp thông tin, vừa có nhu cầu sử dụng thông tin. Vai trò của hoạt động cung cấp thông tin tín dụng thể nhân Các sản phẩm của hoạt động cung cấp thông tin tín dụng thể nhân ngoài việc giúp TCTD nhận định được những khách hàng có độ rủi ro cao theo lịch sử dư nợ của khách hàng vay, lịch sử chậm thanh toán của chủ thẻ tín dụng, tránh việc trùng lặp 1 tài sản được đảm bảo cho nhiều hợp đồng tín dụng tại nhiều ngân hàng. Các báo cáo do các tổ chức thông tin tín dụng cung cấp ngày càng hoàn thiện hơn trong việc giúp cho TCTD nhận định những nguy cơ tiềm ẩn về lĩnh vực kinh doanh sản xuất mà khách hàng sử dụng nguồn vốn vay để đầu tư, thông qua việc so sánh các số liệu thống kê về lĩnh vực đầu tư, mức đầu tư theo hợp đồng tín dụng đối với nhu cầu thực tế của các ngành kinh tế và lĩnh vực tương ứng trên phạm vi cả nước. Đối với khách hàng vay, báo cáo giúp khách hàng vay biết được mức độ tín nhiệm và tình trạng tín dụng của bản thân để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tiêu dùng; góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng; giảm thiểu thủ tục, hồ sơ, thời gian trong quá trình vay vốn; nâng cao tính công khai, minh bạch của thông tin khách hàng đối với các TCTD; kết nối cung - cầu tín dụng; cải thiện chỉ số tiếp cận tín dụng quốc gia, chỉ số xếp hạng môi trường kinh doanh; thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Ngoài ra, các báo cáo TTTD thể nhân còn có vai trò phục vụ quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước khác. Nội dung hoạt động cung cấp thông tin tín dụng 1.1 Các nguyên tắc chung trong hoạt động thông tin tín dụng Trong năm 2008, Ngân hàng Thế giới, với sự hỗ trợ từ Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, đã thành lập một nhóm công tác xây dựng các tiêu chuẩn của hệ thống thông tin tín dụng (Credit Reporting Standards Setting Task Force) nhằm phát triển các hướng dẫn và tiêu chuẩn phổ quát cho các hệ thống thông tin tín dụng. Nhóm công tác bao gồm đại diện của các ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý tài chính khác, từ các tổ chức đa phương có liên quan đến hoạt động thông tin tín dụng, và từ các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng quốc tế. 10 Vào tháng 09 năm 2011, nhóm công tác đã công bố “Những nguyên tắc chung đối với hệ thống thông tin tín dụng” (General Principles for Credit Reporting) - một hệ thống các nguyên tắc hướng dẫn sự phát triển của hệ thống thông tin tín dụng dành cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, giám sát, các nhà cung cấp dữ liệu thông tin tín dụng, các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng và người tiêu dùng.
Ngoài năm nguyên tắc cốt lõi chung, nhóm công tác đã xác định và đề cập các vai trò cụ thể cho các bên liên quan trong hệ thống thông tin tín dụng, cũng như các khuyến nghị nhằm giám sát. Các nguyên tắc đó là: Chất lượng dữ liệu, Tính bảo mật, Khung pháp lý, Cơ chế quản trị rủi ro và trao đổi tín dụng qua biên giới. Nguyên tắc 1: Hệ thống thông tin tín dụng cần có dữ liệu chính xác, kịp thời và đầy đủ - bao gồm cả tích cực - thu thập một cách có hệ thống từ tất cả các nguồn có liên quan và có sẵn, và nên lưu trữ các thông tin này trong một thời gian đủ dài. Tính chính xác của dữ liệu - Số liệu thu thập và cung cấp không có sai sót, trung thực, đầy đủ và cập nhật đến mức có thể.
- Để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu được thực hiện trên cơ sở liên tục, các thành viên của hệ thống thông tin tín dụng nên áp dụng các quy tắc, thủ tục cung cấp dữ liệu liên tục phù hợp với tất cả các nhà cung cấp dữ liệu với các đặc tính tương tự. Tính kịp thời của dữ liệu - Dữ liệu nên có sẵn cho người dùng của hệ thống thông tin tín dụng một cách nhanh chóng để họ có thể thực hiện chức năng của mình mà không có sự chậm trễ không cần thiết. Tính đầy đủ dữ liệu - Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng có thể thu thập và xử lý tất cả các thông tin liên quan cần thiết để thực hiện các mục đích hợp pháp của họ. Thông tin liên quan bao gồm cả dữ liệu tiêu cực và tích cực, cũng như bất kỳ các thông tin khác được coi là thích hợp đối với hệ thống thông tin tín dụng, phù hợp với những yếu tố được đề cập trong các nguyên tắc chung khác.
11 - Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng cần thiết lập các quy tắc rõ ràng về dữ liệu đầu vào tối thiểu và các dữ liệu đầu vào. Ở mức tối thiểu, các yếu tố dữ liệu được thu thập bao gồm: thông tin nhận dạng, thông tin về tín dụng bao gồm cả số tiền ban đầu, ngày bắt đầu, ngày đến hạn, số tiền còn nợ, hình thức vay, thông tin vỡ nợ, dữ liệu nợ quá hạn. Thu thập dữ liệu trên cơ sở hệ thống từ tất cả các nguồn có liên quan và có sẵn - Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng có thể thu thập thông tin từ tất cả các nhà cung cấp dữ liệu có liên quan, trong giới hạn quy định theo luật. - Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng có thể truy cập nguồn dữ liệu khác có liên quan, trong giới hạn quy định theo luật.
Lưu trữ dữ liệu - Số liệu thu thập bởi các hệ thống thông tin tín dụng nên có sẵn cho người sử dụng trong một khoảng thời gian phù hợp với mục đích sử dụng của dữ liệu. - Có các quy định rõ ràng liên quan đến phương pháp xác định ngày hoặc sự kiện cụ thể khi việc cung cấp dữ liệu chấm dứt. Nguyên tắc 2: Hệ thống thông tin tín dụng cần có những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an ninh, độ tin cậy, và có hiệu quả. Các biện pháp an ninh - Các thành viên của hệ thống thông tin tín dụng phải bảo vệ dữ liệu, chống thất thoát, sai lệch, tiêu hủy, lạm dụng hoặc truy cập phi pháp.
Độ tin cậy - Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng phải thực hiện các biện pháp kinh doanh liên tục thích hợp để đảm bảo rằng các dịch vụ của họ luôn ở tư thể sẵn sàng phục vụ cho người dùng mà không có bất kỳ sự gián đoạn đáng kể nào. Tính hiệu quả - Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng cần đạt hiệu quả cả từ triển vọng hoạt động cũng như từ góc độ chi phí, liên tục đáp ứng các nhu cầu của người sử dụng và tiêu chuẩn cao về trình độ phục vụ. Nguyên tắc 3: Cơ chế quản trị của các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu phải đảm bảo trách nhiệm giải trình, tính minh 12 bạch và hiệu quả trong việc quản lý các rủi ro liên quan đến việc kinh doanh và công bằng tiếp cận thông tin của người sử dụng. Trách nhiệm giải trình của cơ chế quản trị: Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu thông tin tín dụng cung cấp dữ liệu phải đảm bảo trách nhiệm giải trình của ban điều hành và của các thành viên hội đồng quản trị nếu có.
Điều này nên bao gồm kiểm toán hoặc đánh giá độc lập.