CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC 1. CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm về Dự án và Dự án phát triển Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định [23]. Dự án phát triển (dự án phát triển - DAPT) là dự án trực tiếp tạo ra sản phẩm chiến lược, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ngành, vùng, thúc đẩy quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế hoặc cơ cấu thu nhập của nhiều bộ phận dân cư [4]. DAPT thường có các đặc điểm sau đây: - Thứ nhất, DAPT là những dự án lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế quốc gia: thực hiện chiến lược công nghiệp hóa (phát triển các ngành công nghiệp, khu công nghiệp, đường giao thông), phát triển nông nghiệp và nông thôn (phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn), chiến lược xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu (phát triển các ngành kinh tế có lợi thế so sánh trên thị trường quốc tế), chiến lược giảm đói nghèo, bản vệ môi trường.
- Thứ hai, DAPT nhằm tới hai mục tiêu: Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội: Các DAPT phải tạo ra thu nhập bù đắp toàn bộ chi phí và có lãi. Do đó, các dự án này phải được thiết kế trên cơ sở tính toán được hiệu quả tài chính trực tiếp. Khác với dự án thương mại, DAPT phải thực hiện các mục tiêu xã hội như phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế…Chủ đầu tư thường là Nhà nước (hoặc các cơ quan phát triển) nên việc thực hiện đa mục tiêu là tất yếu đối với DAPT. Các mục tiêu trong một số trường hợp lại mâu thuẫn với nhau, hoặc làm giảm độ lớn của nhau.
Vì vậy chủ đầu tư phải xác định nhóm mục tiêu cơ bản, có tính thống nhất cao. 2 - Thứ ba, DAPT nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước: Do tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, DAPT thường nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước, như được ngân sách cấp vốn, được vay ưu đãi, được Chính phủ bảo lãnh khi vay vốn,. Khái niệm cho vay Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay), trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ [23] 1.
Khái niệm Cho vay đầu tư của Nhà nước Cho vay đầu tư của Nhà nước là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua hình thức tín dụng để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững [9]. Cho vay đầu tư của Nhà nước không nhằm mục tiêu kinh tế đơn thuần mà nhằm vào các mục tiêu rộng hơn, vừa có tính chất kinh tế, vừa có tính chất xã hội, thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Thông qua các mối quan hệ vay - trả, hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước chính là một hình thức tín dụng nhằm đáp ứng các nguồn vốn cho ĐTPT; đồng thời, cho vay đầu tư của Nhà nước còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn cho ĐTPT. Cho vay đầu tư của Nhà nước là một công cụ của Chính phủ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng của Nhà nước.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, có tác dụng tích cực đáng kể trong việc giảm bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính toán kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức 3 cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Cho vay đầu tư của Nhà nước ở Việt Nam Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT Việt Nam) được Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện chính sách tín dụng đầu tư (TDĐT) và tín dụng xuất khẩu (TDXK) của Nhà nước. Cho vay đầu tư của NHPT Việt Nam là một trong các hình thức TDĐT của Nhà nước đối với các dự án đầu tư thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn và các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn cần khuyến khích đầu tư theo quy định của Chính phủ [14]. Theo quy định hiện đang được áp dụng tại Nghị định 75/2011/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về TDĐT và TDXK của Nhà nước thì TDĐT của Nhà nước, bao gồm: Cho vay đầu tư và hỗ trợ sau đầu tư. Như vậy, Cho vay đầu tư là một hoạt động của Chính sách TDĐT của Nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc Danh mục các dự án vay vốn TDĐT được Chính phủ ban hành trong từng thời kỳ, với các ưu đãi về lãi suất, về đảm bảo tiền vay, thời hạn vay,.
NHPT Việt Nam thực hiện cho vay đầu tư theo quy định của Chính phủ căn cứ kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm. Đặc điểm cho vay đầu tư của Nhà nước Cũng như các hình thức cho vay của các ngân hàng thương mại, cho vay đầu tư của Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa đối tượng đi vay và bên cho vay, nhờ quan hệ ấy mà các nguồn vốn trong xã hội được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cho vay đầu tư của Nhà nước là hình thức tín dụng đặc biệt, không nhằm mục đích kinh tế đơn thuần mà nó có những đặc tính sau: - Về mặt kinh tế: Tính lợi ích kinh tế vừa thể hiện trực tiếp trên lợi tức tiền vay, vừa được thể hiện gián tiếp dưới góc độ thụ hưởng các tiện ích từ các dự án 4 đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT của Nhà nước mang lại. Đồng thời, góp phần phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững theo đúng định hướng.
- Về mặt xã hội: cho vay đầu tư của Nhà nước sẽ tập trung vào các lĩnh vực mà tín dụng ngân hàng không muốn đầu tư hoặc không thể đầu tư (do dự án đầu tư có quy mô quá lớn, thời hạn cho vay dài, hiệu quả kinh tế đôi khi không được đảm bảo,.) để giải quyết các vấn đề mang tính xã hội của đất nước như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội,… Với đặc tính vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội, bản chất của cho vay đầu tư của Nhà nước thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, cho vay đầu tư của Nhà nước không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý, điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Thứ hai, đối tượng vay đầu tư của Nhà nước bị giới hạn bởi các chương trình, mục tiêu, định hướng và chủ trương đầu tư của Nhà nước. Thứ ba, nguồn vốn để thực hiện cho vay đầu tư của Nhà nước là vốn Ngân sách nhà nước và nguồn vốn huy động theo kế hoạch của Nhà nước, được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán. Thứ tư, lãi suất cho vay là lãi suất ưu đãi do Nhà nước điều tiết phù hợp với yêu cầu, đặc điểm cụ thể của đất nước và chủ truơng khuyến khích đầu tư, phát triển xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Thứ năm, các định chế tài chính trung gian làm nhiệm vụ cho vay đầu tư của Nhà nước là hệ thống cơ quan chuyên môn của Nhà nước, hoạt động như một ngân hàng nhưng theo cơ chế quản lý riêng, không chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước. Thứ sáu, cho vay đầu tư của Nhà nước rủi ro nhiều hơn. Do đối tượng cho vay bị giới hạn theo danh mục quy định của Nhà nước, thời hạn cho vay dài (chịu tác động diễn biến khó lường theo thời gian như: môi trường pháp lý, tác động khủng hoảng, tác động do biến động thị trường tài chính tiền tệ.), lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất thị trường trong khi tài sản đảm bảo được ưu đãi hơn. 5 Như vậy, cho vay đầu tư của Nhà nước là công cụ tài chính của Nhà nước nhằm hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tham gia đầu tư qua đó thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
Sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế, chính trị và xã hội là bản chất của cho vay đầu tư của Nhà nước. Tuy cùng là họat động trên nguyên tắc vay trả, nhưng do bản chất đặc thù của mình, cho vay đầu tư của Nhà nước có những điểm khác biệt so với cho vay đầu tư của các ngân hàng thương mại.1 Sự khác nhau giữa cho vay đầu tư của Nhà nước và cho vay đầu tư của các ngân hàng thương mại (NHTM) Cho vay đầu tư của Nhà Chỉ tiêu so sánh Cho vay đầu tư của NHTM nước Hoạt động không vì mục tiêu Hoạt động chủ yếu vì mục 1. Mục đích cho vay lợi nhuận, vì mục tiêu phát đích lợi nhuận. triển kinh tế- xã hội.
Hoạt động theo pháp luật riêng về TDĐT của Nhà Hoạt động theo luật các tổ 2. Luật điều chỉnh nước và luật các tổ chức tín chức tín dụng. dụng Rất rộng tùy theo chiến Bị giới hạn theo danh mục lược kinh doanh của bản 3. Đối tượng cho vay quy định của Chính phủ tại thân ngân hàng trong từng thời kỳ.
khuôn khổ pháp luật cho phép. Cơ quan quản lý Ngân hàng Nhà nước trực Chính phủ trực tiếp quản lý Nhà nước tiếp quản lý 5.