CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước và của PVcomBank Tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng, chiếm 60-70% tổng thu nhập của nhiều NHTM nước ta hiện nay. Vì thế quản trị rủi ro tốt sẽ mang lại sự an toàn cho hoạt động ngân hàng, phòng ngừa được những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai. Cũng chính vì lẽ đó, trong những năm gần đây, các NHTM ngày càng chú trọng đến công tác quản trị rủi ro nói chung và quản trị RRTD nói riêng. Và đây cũng là một trong những đề tài được các sinh viên, nghiên cứu sinh chọn làm đề tài nghiên cứu.
Quá trình thu thập tài liệu trong thư viện cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, hiện tại có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về công tác quản trị RRTD như sau: - Nguyễn Tuấn Anh (năm 2012), Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân: “Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam” Luận án đã đưa ra các dấu hiệu cơ bản để nhận biết rủi ro tín dụng Việt Nam, bao gồm nhóm các dấu hiệu phát hiện và cảnh báo sớm rủi ro và nhóm các yếu tố nhận diện rủi ro, cũng như cách đo lường RRTD. Trên cở sở đó, Luận án đã đề xuất mô hình quản trị RRTD theo các quy tắc và chuẩn mực của ngân hàng hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển ổn định, bền vững của ngành ngân hàng Việt Nam. Luận án đã chỉ ra nhiều hạn chế trong quản trị RRTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam như: Mô hình quản trị rủi ro còn nhiều lạc hậu; Hệ số CAR thấp so với các NHTM quốc doanh khác; Cơ 5 cấu vốn chủ sở hữu thấp; Hệ thống đánh giá chấm điểm khách hàng chưa đánh giá đúng khả năng khách hàng và còn mang tính hình thức. Luận án đã đưa ra khuyến nghị về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cũng như đề xuất nhấn mạnh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cần nhanh chóng thay đổi mô hình quản trị RRTD, thành lập Ủy ban quản trị rủi ro, phân công lại chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị, xây dựng hệ thống báo cáo theo chuẩn quốc tế.
- Phạm Thị Đào (năm 2013), Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế Quốc dân: “Tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng liên doanh Việt Nga”. Luận văn đã hệ thống hóa được các nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng, bao gồm: nhận diện, đo lường, đánh giá tác động và giải pháp hạn chế rủi ro, thống nhất cách tiếp cận từ lý luận đến thực trạng, tuy nhiên do Luận văn đi sâu vào nghiên cứu thực trạng tại Ngân hàng Liên doanh Việt Nga, là ngân hàng có tổng tài sản nhỏ, dư nợ thấp, số lượng khách hàng vay vốn ít, tập trung chủ yếu tại địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nên việc đưa ra các giải pháp để áp dụng cho hệ thống NHTM tại Việt Nam còn hạn chế. - Đỗ Thị Lan Anh (năm 2013), Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế quốc dân: “Hoàn thiện công tác Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” Luận văn đã nghiên cứu cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu các vấn đề về RRTD và công tác quản trị RRTD, đã đánh giá được công tác quản trị RRTD tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tuy nhiên các giải pháp về hoàn thiện công tác quản trị RRTD chưa cụ thể và chưa gắn với bối cảnh hiện tại về hoạt động tín dụng của Việt Nam. 6 - Trần Minh Hải (năm 2011), Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế quốc dân: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bắc Á” Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu quản trị RRTD của Ngân hàng TMCP Bắc Á- Đây là một NHTM cổ phần có quy mô nhỏ, trụ sở chính tại thành phố Vinh, Nghệ An.
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng này chủ yếu là cho vay các Khách hàng đô thị nên thực trạng và các giải pháp quản trị rủi ro tác giả đề cập chủ yếu đối với nhóm khách hàng này nên phạm vi của luận văn khá hẹp. - Phạm Thanh Hương (năm 2011), Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế quốc dân: “Giải pháp tăng cường Quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Quân Đội” Luận văn đã nghiên cứu cơ sở thực tiễn hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Quân Đội thời gian qua cũng cho thấy rủi ro tín dụng của toàn hệ thống chưa được kiểm soát một cách hiệu quả và đang có xu hướng gia tăng, đề tài tập trung vào việc giải quyết yêu cầu cấp bách đang đặt ra cho Ngân hàng TMCP Quân Đội là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong họat động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng, góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thế của Ngân hàng TMCP Quân Đội trong cạnh tranh.2 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài Tuy gần đây, vấn đề quản trị RRTD trong NHTM được quan tâm và xuất hiện nhiều trong các đề tài thảo luận, đề tài nghiên cứu, nhưng chúng ta vẫn chưa thấy được hiệu quả, cải thiện trong việc quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng. Bằng chứng là từ năm 2012 đến 2014, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng không ngừng tăng lên, và nợ có nguy cơ mất vốn chiếm tỉ lệ cao trong 7 tổng số nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu năm 2013 là 3,79%, năm 2014 là 3,25%, hầu hết các ngân hàng đều báo cáo nợ xấu gia tăng. Thực trạng này được báo động qua chương trình tái cấu trúc hệ thống các NHTM được công bố từ cuối năm 2011: Habubank sáp nhập vào SHB, hợp nhất 03 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa và Ngân hàng TMCP Đệ Nhất thành một Ngân hàng TMCP Sài Gòn duy nhất vào cuối tháng 12/2011, PVFC sáp nhật với WTB để thành PVcomBank, Southern Bank và SacomBank sáp nhập với nhau, MHB sáp nhập với BIDV, MDB sáp nhập vào MSB và hiện nay một số NHTM đang tiếp tục thực hiện các vụ sáp nhập với nhau để tạo ra những NHTM mới.
Đồng thời trong năm 2014, nhiều cán bộ, lãnh đạo cấp cao của NHTM bị bắt do các sai phạm trong quá trình quản trị Ngân hàng như: lãnh đạo cấp cao của Ngân hàng Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Đại Dương, Ngân hàng Dầu khí Toàn Cầu bị bắt trong thời gian vừa qua. Có thể thấy rằng, dù các NHTM Việt Nam đã được cảnh báo về tầm quan trọng của công tác quản trị RRTD, chủ đề này cũng đã được bàn luận và nghiên cứu qua rất nhiều hội thảo, công trình khoa học, nhưng cho đến thời điểm hiện tại, việc quản trị RRTD của các NHTM Việt Nam vẫn còn rất non kém và chưa có nhiều cải thiện đáng kể. Từ lý luận nghiên cứu khoa học, tư vấn giải pháp đi đến vận dụng vào thực tế hoạt động quản trị rủi ro là cả một quá trình. Nó đòi hỏi nhiều chi phí, chất xám, thời gian, đặc biệt là về nhân sự và sự hỗ trợ từ những chính sách đúng đắn và có tầm nhìn của các lãnh đạo ngân hàng cũng như nhà nước.
Tại PVcomBank do là Ngân hàng mới được thành lập từ tháng 10/2013 trên cơ sở sáp nhập giữa PVFC và WTB, nên hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề quản trị RRTD. Đồng thời, trong suốt quá trình nghiên cứu, tác giả nhận ra rằng công tác quản trị RRTD tại PVcomBank về cơ bản được 8 thực hiện có quy trình khoa học, được chú trọng. Tuy nhiên, do là ngân hàng mới được sáp nhập giữa 02 TCTD với quy mô vốn điều lệ, tổng tài sản, bộ máy, các quy trình quản trị RRTD khác nhau, nên công tác quản trị RRTD tại PVcomBank đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: (i) công cụ quản trị rủi ro chưa đồng bộ, (ii) chưa xây dựng hoàn chỉnh bộ máy quản trị rủi ro, (iii) chưa có kế hoạch quản trị RRTD dài hạn. Nguyên nhân chủ yếu là do được thành lập từ việc sát nhập giữa hai TCTD với quy mô tài sản, chất lượng tín dụng và hoạt động quản trị RRTD khác nhau.
Căn cứ vào những thực tế tồn tại nêu trên, luận văn đi sâu tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản trị RRTD của NHTM, phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng của PVcomBank, từ đó đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị RRTD của PVcomBank phù hợp với luật pháp Việt Nam, thông lệ quốc tế. 9 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của Ngân hàng. Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra.
Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN về việc Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo tài liệu Financial Institutions Management- A Modern Perpective thì A.