Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu đối với các DNNVV của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nợ xấu đối với DNNVV tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU ĐỐI VỚI CÁC DNNVV CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về nợ xấu trong hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm nợ xấu Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động cấp tín dụng có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà đối với cả nền kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế đồng thời là hoạt động đang mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Để có thể phát huy được vai trò của nó các ngân hàng cần có các biện pháp quản lý nợ tốt mới hạn chế được rủi ro cho ngân hàng, hạn chế được các khoản nợ xấu phát sinh.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về nợ xấu được đưa ra, ví dụ như: 1. Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu Nợ xấu trong các NHTM gồm Những khoản nợ không thể thu hồi được: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ. - Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. - Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi được đầy đủ như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 - Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ - Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thoả thuận - Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng đầy đủ - Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Một khoản nợ được gọi là xấu khi việc thanh toán lãi vay và nợ gốc quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc đã có ít nhất 90 ngày tiền lãi được vốn hoá, tái đầu tư hay gia hạn bằng thoả thuận, hoặc những khoản thanh toán quá hạn dưới 90 ngày, nhưng có những nguyên nhân hợp lý khác để nghi ngờ về việc những khoản nợ sẽ được thanh toán đầy đủ.
Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) Khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của IAS hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Quan niệm của Việt Nam Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được căn cứ vào thời gian quá hạn và thực trạng khách hàng và được phân làm 05 nhóm: Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn, Nhóm 2 - Nợ cần chú ý, Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn, Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ, Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn. Và theo quyết định 493: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5.
Nợ xấu theo quan điểm của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 khả năng trả nợ đáng lo ngại. Qua những định nghĩa trên ta có thể hiểu khái quát về nợ xấu là các khoản Nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. Dấu hiệu cảnh báo về khoản tín dụng có vấn đề Dưới đây là những dấu hiệu cảnh báo một khoản cho vay có khả năng trở thành một khoản nợ xấu: 1. Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng Đây là nhóm dấu hiệu dễ nhận biết nhất, có tác động trực tiếp, với tốc độ nhanh và trong khoảng thời gian ngắn tới chất lượng của khoản tín dụng, có thể chuyển từ trạng thái bình thường lên cấp độ rủi ro cao, do vậy, đòi hỏi cần có ngay những phản ứng mau lẹ, tích cực và hiệu quả, chỉ một giải pháp chệch hướng cũng đủ để gây ra những tổn thất không nhỏ cho ngân hàng.
Nhóm các dấu hiệu này còn được gọi với một tên khác là nhóm các dấu hiệu cảnh báo sớm, bao gồm các dấu hiệu cơ bản sau: - Trì hoãn, gây khó khăn, trở ngại cho Ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh mà không có giải thích minh bạch, thuyết phục. - Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính, cung cấp thông tin theo yêu cầu mà không có lý do thuyết phục. Không có dự đoán về lưu chuyển tiền tệ. - Đề nghị cơ cấu lại nợ (gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ) nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc cơ cấu lại nợ.
- Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng, xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của khách hàng; - Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn. Thanh toán các khoản nợ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 gốc không đầy đủ, đúng hạn; - Mức độ vay thường xuyên gia tăng, đề nghị vay vượt quá nhu cầu dự kiến. - Tài sản bảo đảm không đủ tiêu chuẩn. - Có dấu hiệu trông chờ các nguồn thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán.
- Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của Ngân hàng; - Có dấu hiệu sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn. - Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ với giá cao, với mọi điều kiện. Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Các dấu hiệu này có tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín dụng nhưng với độ “trễ” lớn hơn. Các dấu hiệu này được rút ra từ chính bản thân hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng.
Nó cũng đòi hỏi các giải pháp và chiến lược xử lý có tính dài hạn hơn. Các dạng dấu hiệu nhận dạng như sau: - Độ lệch giữa doanh thu, dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng. - Những thay đổi bất lợi trong các chỉ tiêu tài chính như cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ hoạt động của khách hàng, cụ thể: sự gia tăng đột biến của hệ số nợ, khả năng thanh toán nhanh và thanh toán tức thời có dấu hiệu sụt giảm liên tục, giảm các khoản phải trả và tăng nhanh các khoản phải thu, hàng tồn kho với cường độ lớn, sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, giảm quỹ tiền mặt, tăng doanh thu nhưng giảm lợi nhuận hoặc không có, các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp, thay đổi theo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 chiều hướng xấu về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh thu, lượng hàng hoá tăng nhanh hơn doanh thu, số lượng khách hàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ được kéo dài, làm đẹp bảng cân đối bằng cách tạo ra các tài sản vô hình, tăng giá trị quá cao thông qua đánh giá lại tài sản,. - Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền,.
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị và ban điều hành. - Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý.