Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Thị Trà Giang (Mã sinh viên: 2012901006, Lớp: PL2401K, Ngành Luật, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng, dưới sự hướng dẫn của TS. Lương Thị Kim Dung) tiếp cận vấn đề hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Theo lập luận của tác giả trong văn bản, hoạt động cho vay là nghiệp vụ truyền thống mang lại nguồn thu chủ yếu cho các tổ chức tín dụng nhưng đồng thời tiềm ẩn rủi ro rất lớn, có nguy cơ gây đổ vỡ hệ thống ngân hàng và tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Bài học từ các cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ, một số nước châu Âu và Nhật Bản đặt ra yêu cầu bức thiết phải kiểm soát rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng. Mặc dù Nhà nước đã ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, khung pháp luật điều chỉnh các biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, dẫn đến khó khăn trong xử lý nợ xấu khi khách hàng mất khả năng thanh toán.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tín dụng ngân hàng và các biện pháp bảo đảm chủ yếu (cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba, phương thức xử lý tài sản bảo đảm).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn áp dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận pháp lý về bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng, cùng hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn thi hành các biện pháp này tại Việt Nam. Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung vào không gian pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, giới hạn nội dung trọng tâm vào các biện pháp bảo đảm tiền vay với hai biện pháp then chốt là cầm cố và thế chấp tài sản, đặc biệt chú trọng khâu xử lý tài sản bảo đảm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng khoa học luật học chuyên ngành luật dân sự và luật ngân hàng, sử dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định gồm:

  • Các luật và pháp lệnh: Bộ luật Dân sự năm 2015 (cùng các dẫn chiếu so sánh với Bộ luật Dân sự năm 1995, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991), Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Hàng hải năm 2005.
  • Các văn bản dưới luật và quy chế chuyên ngành: Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP); Quyết định số 217/QĐ-NH1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng; Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN ngày 22/05/2014 về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Văn bản hợp nhất số 8019/VBHN-BTP liên quan đến đăng ký biện pháp bảo đảm và quyền tài sản.

Về mặt lý luận, tác giả sử dụng học thuyết nghĩa vụ dân sự để làm rõ bản chất của giao dịch bảo đảm là quan hệ phụ nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chính, thực hiện ba chức năng cơ bản: chức năng tác động, chức năng dự phòng và chức năng dự phạt.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo được áp dụng xuyên suốt khóa luận là phương pháp phân tích và tổng hợp. Tác giả sử dụng phương pháp này để bóc tách từng điều khoản luật thực định, đối chiếu giữa quy định chung của Bộ luật Dân sự với quy định chuyên ngành trong lĩnh vực ngân hàng và đất đai, từ đó tổng hợp thành các nhóm vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng và luận giải cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện. Nguồn dữ liệu của đề tài là dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp luật hiện hành và các công trình lý luận pháp lý liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng

Chương này tập trung xác lập cơ sở khoa học về hợp đồng tín dụng và các biện pháp bảo đảm tiền vay. Hợp đồng tín dụng được định nghĩa là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân đủ điều kiện luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong thời hạn nhất định với điều kiện hoàn trả cả gốc và lãi dựa trên sự tín nhiệm. Đặc trưng pháp lý của hợp đồng này bao gồm: hình thức bắt buộc bằng văn bản; đối tượng luôn là một khoản tiền xác định (gồm tiền mặt và bút tệ); chủ thể cho vay bắt buộc là tổ chức tín dụng được thành lập theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; lãi suất do các bên thỏa thuận theo cung cầu thị trường nhưng tuân thủ giới hạn trần của Ngân hàng Nhà nước; nghĩa vụ giải ngân của bên cho vay phải đi trước làm tiền đề cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay; và hợp đồng luôn tiềm ẩn rủi ro tăng dần theo thời hạn vay.

Theo Điều 17 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN, hợp đồng tín dụng bao gồm 6 điều khoản cơ bản: điều kiện vay vốn, đối tượng hợp đồng, thời hạn sử dụng vốn vay, phương thức thanh toán tiền vay, mục đích sử dụng vốn vay và điều khoản giải quyết tranh chấp.

Tiêu chí phân loại Phân loại cụ thể Đặc điểm và phạm vi áp dụng
Căn cứ vào thời hạn cho vay Hợp đồng tín dụng ngắn hạn Thời hạn dưới 01 năm; bù đắp thiếu hụt vốn lưu động, sửa chữa lớn tài sản cố định.
Hợp đồng tín dụng trung hạn Thời hạn từ 01 đến 03 năm; mua sắm tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, dự án thu hồi vốn nhanh.
Hợp đồng tín dụng dài hạn Thời hạn trên 03 năm; xây dựng cơ sở sản xuất quy mô lớn, công trình hạ tầng (sân bay, đường sá, bến cảng).
Căn cứ vào đối tượng cho vay Hợp đồng tín dụng vốn cố định Hình thành vốn cố định cho tổ chức kinh tế (mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng mới).
Hợp đồng tín dụng vốn lưu động Hình thành vốn lưu động (dự trữ hàng hóa, chi phí sản xuất, thanh toán nợ).
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm Hợp đồng tín dụng không bảo đảm Cho vay tín chấp; áp dụng cho khách hàng có độ tín nhiệm cao, tài chính lành mạnh.
Hợp đồng tín dụng có bảo đảm Áp dụng cho khách hàng rủi ro cao; yêu cầu cầm cố, thế chấp tài sản hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.

Về các biện pháp bảo đảm, tác giả xác định bản chất của chúng là chế tài dân sự dự phòng do các bên thỏa thuận, mang 6 đặc điểm chung: (1) mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính; (2) nhằm nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ; (3) đối tượng là lợi ích vật chất; (4) phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ chính; (5) chỉ được kích hoạt áp dụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ; và (6) phát sinh chủ yếu từ sự thỏa thuận.

Phân tích 3 biện pháp chủ yếu được áp dụng trong ngân hàng:

  • Cầm cố tài sản (Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015): bắt buộc có sự chuyển giao tài sản thực tế từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố. Tác giả phân tích tài sản cầm cố bằng tiền mặt (về lý thuyết là được phép theo Điều 105 nhưng thực tiễn kinh tế không khả thi vì tiền là thước đo giá trị) và tài sản là quyền sử dụng đất (tồn tại xung đột giữa tập quán cồ đất với tính thống nhất của pháp luật). Hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh từ thời điểm chiếm giữ tài sản, riêng bất động sản phát sinh từ thời điểm đăng ký.
  • Thế chấp tài sản (Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015): không có sự chuyển giao tài sản, tài sản do bên thế chấp hoặc người thứ ba nắm giữ; phân loại thành tài sản hữu hình/vô hình, động sản/bất động sản, tài sản hiện có/hình thành trong tương lai, tài sản có đăng ký hoặc không đăng ký quyền sở hữu. Hiệu lực đối kháng phát sinh từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm.
  • Bảo lãnh: bản chất là biện pháp đối nhân ba bên (bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh), bên bảo lãnh cam kết dùng tài sản hoặc uy tín để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên vay khi đến hạn vi phạm nghĩa vụ.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm điều chỉnh quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, chế độ pháp lý của tài sản bảo đảm, quy trình giao kết và xử lý tài sản:

  • Quy chế chủ thể: Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố và nhận cầm cố được đối chiếu theo Điều 39 đến Điều 42 Quyết định số 217/QĐ-NH1. Đối với quan hệ thế chấp, quyền và nghĩa vụ được quy định chi tiết tại Điều 321, Điều 323, Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 18 đến Điều 21 Quyết định số 217/QĐ-NH1. Điểm đáng chú ý là quyền của bên thế chấp được bán, thay thế tài sản nếu là hàng hóa luân chuyển trong sản xuất kinh doanh hoặc kho hàng, trong khi các tài sản thông thường khác bị cấm chuyển nhượng nếu không có sự đồng ý của ngân hàng. Đối với quan hệ bảo lãnh, hoạt động bảo lãnh ngân hàng tồn tại dưới dạng giao dịch kép gồm hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh.
  • Quy định về tài sản bảo đảm: Tác giả phân tích bước phát triển mới của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP khi sử dụng thuật ngữ bao quát "xử lý tài sản bảo đảm" thay vì giới hạn "xử lý tài sản bảo đảm trong cầm cố, thế chấp" như Nghị định số 163/2006/NĐ-CP cũ. Điều 8 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định 4 nhóm tài sản bảo đảm, kết hợp các điều kiện tại Điều 295 và cơ chế một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ tại Điều 296 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với tài sản cầm cố, Điều 334 Bộ luật Dân sự quy định nguyên tắc xử lý khi cầm cố nhiều tài sản cho một nghĩa vụ, đồng thời cảnh báo rủi ro tổ chức tín dụng nhận phải tài sản thuê, mượn bị chủ sở hữu thực sự đòi lại theo Điều 256. Đối với tài sản thế chấp, Văn bản hợp nhất số 8019/VBHN-BTP ghi nhận cụ thể quyền sử dụng đất và quyền đòi nợ là hai quyền tài sản được dùng để thế chấp.
  • Bất cập pháp lý nổi bật: Tác giả chỉ ra Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xóa nhòa sự phân biệt rành mạch vốn có của các văn bản trước đây. Luật vừa cho phép bảo lãnh bằng tài sản, vừa công nhận việc dùng tài sản cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ cho người thứ ba, dẫn đến hiện tượng lồng ghép, chồng chéo giữa thế chấp trực tiếp và thế chấp vòng qua bảo lãnh, mâu thuẫn với Luật Đất đai năm 2013. Hơn nữa, luật chỉ quy định trình tự xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà hoàn toàn thiếu vắng quy chế xử lý đối với tài sản bảo lãnh. Xung đột giữa Luật Đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng khiến các hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất không được Tòa án công nhận.
  • Trình tự ký kết và thực hiện: Quy trình tín dụng trải qua 4 giai đoạn bắt buộc: (1) Lập hồ sơ đề nghị vay vốn; (2) Xét duyệt tín dụng và thẩm định năng lực; (3) Ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm; (4) Thực hiện giải ngân, giám sát sử dụng vốn, thu hồi nợ và thanh lý hợp đồng. Hợp đồng bảo đảm có thể là điều khoản trong hợp đồng chính hoặc được lập thành văn bản riêng có công chứng, chứng thực.
  • Quy định về xử lý tài sản bảo đảm: Phân tích các bước tiến tại Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, cho phép bên nhận bảo đảm chủ động xử lý tài sản theo thỏa thuận mà không cần văn bản ủy quyền hay văn bản đồng ý của bên bảo đảm. Điều 50 giải quyết vướng mắc khi bên bảo đảm là cá nhân bị chết hoặc bị tuyên bố chết: hợp đồng bảo đảm vẫn giữ nguyên giá trị thực hiện, bên nhận bảo đảm có quyền thông báo cho người hưởng di sản hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết nếu chưa xác định được người thừa kế. Thời hạn gửi thông báo xử lý tài sản theo Điều 51 được luật định rõ ràng khi không có thỏa thuận: trước ít nhất 10 ngày đối với động sản và trước ít nhất 15 ngày đối với bất động sản.

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng

Căn cứ vào mục lục và nhiệm vụ nghiên cứu được phê duyệt, nội dung Chương 3 của khóa luận được phân bổ theo 4 nhóm giải pháp:

  1. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng.
  2. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cầm cố tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng ngân hàng.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng ngân hàng.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng ngân hàng.

(Ghi chú thư mục: Toàn văn tài liệu cung cấp kết thúc ở trang 43 thuộc Chương 2, do đó hệ thống giải pháp chi tiết của Chương 3 được ghi nhận căn cứ theo đề cương và kết cấu chương mục trong văn bản).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và phân tích cụ thể các căn cứ pháp lý thực định, đạt được các kết quả chính sau:

  • Khái quát và làm sáng tỏ hệ thống lý luận về 3 biện pháp bảo đảm cốt lõi trong tín dụng ngân hàng (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh), phân định rõ ranh giới pháp lý giữa biện pháp có chuyển giao tài sản (cầm cố) và biện pháp không chuyển giao tài sản (thế chấp).
  • Định vị chính xác các điểm mới của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP tác động tích cực đến nghiệp vụ ngân hàng: việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang mọi biện pháp bảo đảm; quy định cho phép ngân hàng xử lý tài sản mà không cần giấy ủy quyền của khách hàng vay (Điều 49); nguyên tắc duy trì hiệu lực xử lý tài sản khi cá nhân chết (Điều 50); và khung thời hạn thông báo xử lý tài sản bắt buộc (10 ngày đối với động sản, 15 ngày đối với bất động sản tại Điều 51).
  • Tự chỉ ra các xung đột lập pháp tồn tại trong thực tiễn: sự mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 liên quan đến giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất; sự chồng chéo rắc rối giữa cơ chế bảo lãnh bằng tài sản và thế chấp tài sản của bên thứ ba; cùng khoảng trống pháp luật khi thiếu các quy định cụ thể về phương thức xử lý tài sản trong quan hệ bảo lãnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt nội dung, khóa luận chủ yếu tập trung mổ xẻ 3 biện pháp truyền thống (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh), chưa mở rộng phân tích các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định (như ký quỹ, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu). Ngoài ra, bản văn bản trích lục dừng lại ở trang 43 nên chưa phản ánh được đầy đủ số liệu thống kê nợ xấu, tranh chấp xét xử thực tế của Tòa án cũng như nội dung chi tiết của các giải pháp lập pháp tại Chương 3.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm:

  • Tiếp tục theo dõi, khảo sát thực tiễn áp dụng Nghị định số 21/2021/NĐ-CP tại các tổ chức tín dụng để đánh giá hiệu quả thi hành trong hoạt động xử lý tài sản thu hồi nợ.
  • Nghiên cứu sửa đổi các điều khoản mâu thuẫn trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 nhằm đồng bộ hóa quy chế bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và chuẩn hóa cơ chế xử lý tài sản bảo lãnh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu các chuyên đề về Pháp luật Hợp đồng dân sự, Pháp luật Ngân hàng và Giao dịch bảo đảm.
  • Cán bộ pháp chế, chuyên viên tín dụng tại các ngân hàng thương mại: Tham khảo danh mục các điều khoản bắt buộc của hợp đồng tín dụng theo Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN, cũng như quy trình thông báo và xử lý tài sản bảo đảm theo Nghị định số 21/2021/NĐ-CP để hoàn thiện biểu mẫu hợp đồng và giảm thiểu rủi ro pháp lý.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Nội dung phân tích sự khác biệt về mặt bản chất giữa thế chấp tài sản của người thứ ba và bảo lãnh bằng tài sản, cùng hệ thống hóa quy trình xử lý tài sản bảo đảm trong tình huống chủ sở hữu tài sản bị chết.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận chỉ ra Nghị định số 21/2021/NĐ-CP có bước thay đổi căn bản nào về mặt thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng?
Theo Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP được trích dẫn trong khóa luận, bên nhận bảo đảm được quyền xử lý tài sản bảo đảm trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm mà không cần phải có thêm văn bản ủy quyền hoặc văn bản đồng ý của bên bảo đảm, giúp ngân hàng đẩy nhanh tiến độ thu hồi nợ.

Bất cập lớn nhất của Bộ luật Dân sự năm 2015 về biện pháp bảo lãnh được tác giả nêu ra là gì?
Đó là sự thiếu rõ ràng khi luật vừa thừa nhận việc bảo lãnh bằng tài sản (đối vật), vừa thừa nhận việc cầm cố, thế chấp tài sản của bên thứ ba để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác. Sự trùng lặp này gây ra sự chồng chéo, khiến các chủ thể và cơ quan áp dụng pháp luật lúng túng trong việc phân biệt thời điểm áp dụng thế chấp trực tiếp hay vòng qua bảo lãnh, đồng thời luật lại bỏ trống quy định về trình tự xử lý tài sản bảo lãnh.

Thời hạn thông báo xử lý tài sản bảo đảm theo luật định khi các bên không có thỏa thuận là bao lâu?
Theo Điều 51 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP nêu tại văn bản, bên nhận bảo đảm phải gửi thông báo trước ít nhất 10 ngày đối với tài sản bảo đảm là động sản và trước ít nhất 15 ngày đối với tài sản bảo đảm là bất động sản tính đến thời điểm tiến hành xử lý.

Việc xử lý tài sản bảo đảm được tiến hành như thế nào nếu bên bảo đảm là cá nhân bị chết trong quá trình thực hiện hợp đồng?
Căn cứ Điều 50 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, sự kiện chết của bên bảo đảm không làm thay đổi việc thực hiện nghĩa vụ và xử lý tài sản theo hợp đồng bảo đảm đã xác lập. Ngân hàng gửi thông báo cho người hưởng di sản hoặc người quản lý di sản; trường hợp chưa xác định được người hưởng hoặc người quản lý di sản khi nghĩa vụ đã đến hạn thì ngân hàng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN, hợp đồng tín dụng ngân hàng bắt buộc phải có những điều khoản cơ bản nào?
Điều 17 của văn bản quy định 6 điều khoản cơ bản gồm: điều khoản về điều kiện vay vốn, điều khoản về đối tượng hợp đồng (số tiền, lãi suất), điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay, điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay, điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay và điều khoản về giải quyết tranh chấp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Thị Trà Giang là công trình nghiên cứu hệ thống về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh các biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Việt Nam. Bằng phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật, đề tài đã làm rõ các quy chế pháp lý về cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn lập pháp giữa Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 và các điểm mới trong Nghị định số 21/2021/NĐ-CP. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu học thuật và phân tích pháp lý hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy luật ngân hàng cũng như hỗ trợ hoạt động kiểm soát rủi ro pháp lý tại các tổ chức tín dụng.