CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát lý luận về báo cáo tài chính 1. Khái niệm về báo cáo tài chính Báo cáo tài chính theo khoản 1 điều 3 Luật kế toán năm 2015, “Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”. Thực chất, báo cáo tài chính là hình thức cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh; tình hình tài chính và các dòng tiền thực tế của công ty hoặc doanh nghiệp.
Lê Thị Xuân (2018), Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp gồm có 4 loại chủ yếu là: bảng cân đối kế toán (BCĐKT), báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD), báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT), thuyết minh báo cáo tài chính. Bảng cân đối kế toán (BCĐKT): - Bảng cân đối kế toán là một loại báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh khái quát về tình hình tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của đơn vị kế toán tại một thời điểm nhất định. - Bảng cân đối kế toán cho biết thông tin về toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và nguồn hình thành nên tài sản đó của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Dựa vào BCĐKT giúp người sử dụng có cái nhìn tổng quát, đánh giá khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp như: cơ cấu tài sản, khả năng tự chủ tài chính, năng lực hoạt động của tài sản, cơ cấu nguồn vốn, khả năng thanh toán các khoản nợ,… Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD): - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tình hình và các kết quả hoạt động của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định bao gồm các kết quả kinh doanh và kết quả hoạt động khác.
BCKQHĐKD cung cấp các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. - Các hình thức của BCKQHĐKD: 7 + Kiểu một bậc: là kiểu liệt kê các khoản thu nhập để thấy tổng các khoản thu nhập và liệt kê các khoản chi phí để thấy tổng quát về kết quả kinh doanh được xác định theo công thức thức là: tổng thu nhập trừ đi tổng chi phí. + Kiểu nhiều bậc: là kiểu mà trong BCKQHĐKD các khoản thu nhập và khoản chi phí được phân loại thành các nhóm có ý nghĩa quan trọng và sắp xếp theo một trật tự nhất định. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT): - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận cấu thành nên báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động.
BCLCTT làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng. - BCLCTT dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của việc biến động giá cả. - Việc lập BCLCTT cần phải căn cứ vào: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ kỳ trước, một số tài liệu kế toán khác,… Thuyết minh báo cáo tài chính: - Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống BCTC của DN, dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin, số liệu đã được trình bày trên BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể. - Bản thuyết minh báo cáo tài chính cần phải được trình bày một cách có hệ thống.
Mỗi khoản mục trong BCĐKT, BCKQHĐKD và BCLCTT cần được 8 đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Thuyết minh BCTC cần phải thể hiện được: + Đặc điểm hoạt động, kỳ kế toán và đơn vị tiền tệ + Giải trình về cơ sở đánh giá và các chính sách kế toán được áp dụng + Trình bày những biến động của VCSH + Tuyên bố về việc tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam + Thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trong mỗi báo cáo tài chính + Những thông tin khác gồm: những khoản nợ tiềm tàng, những khoản cam kết và những thông tin tài chính khác, những thông tin phi tài chính. Mục đích của việc lập báo cáo tài chính Theo thông tư số 200/2014/TT-BTC, tại điều 97 có quy định rõ về mục đích của việc lập báo cáo tài chính cụ thể như sau: Thứ nhất, “Báo cáo tài chính dùng để cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”. Thứ hai, “Báo cáo tài chính cung cấp thông tin về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập và các chi phí kinh doanh khác; lãi lỗ và phân chia kết quả kinh doanh; các luồng tiền khác”.
Ngoài những thông tin yêu cầu như trên, “Doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong bản Báo cáo thuyết minh báo cáo tài chính nhằm giải thích thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên BCTC tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày BCTC”. Vai trò của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính không chỉ phản ánh đúng tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp định hướng đúng nhằm nâng cao chất lượng lợi nhuận, khắc phục những tồn tại cần phải xử lý. - Đối với nhà quản trị, báo cáo tài chính giúp họ thấy được thực trạng hiện tại về tình hình tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp, lợi nhuận thu được trong kỳ kế toán đó. Từ đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị kịp thời như: duy trì, gia 9 tăng lợi nhuận; kiểm soát chặt chẽ các khoản chi phí, các chính sách tiết kiệm nhằm thắt chặt chi phí, bảo đảm tốt khả năng thanh toán của doanh nghiệp,… Với mục đích tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Đối với chủ sở hữu: đây là những người rất quan tâm đến lợi nhuận, lợi tức nhận được từ vốn kinh doanh. Thông tin trên BCTC sẽ là căn cứ để họ đưa ra các quyết định liên quan đến việc cần thiết như phân chia lợi nhuận. Đồng thời, thông qua việc xem xét các thông tin trên BCTC giúp chủ sở hữu đánh giá được năng lực, trách nhiệm của các bộ phận quản lý ở DN - Đối với nhà đầu tư: báo cáo tài chính sẽ cho họ thấy được rằng tình hình tài chính qua các năm của doanh nghiệp có ổn định hay không, có nên đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp hay các dự án của họ không. BCTC thể hiện tổng quan về doanh nghiệp giúp cho nhà đầu tư có những nhận định bước đầu, cũng như suy nghĩ về các kế hoạch đầu tư vào doanh nghiệp đó.
- Đối với cơ quan Thuế: các cơ quan thuế địa phương và trung ương dựa vào tài liệu do kế toán cung cấp để xác định các khoản thuế phải nộp và biết được các doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước hay không. - Đối với Nhà nước: các cơ quan Nhà nước cần thông tin tài chính của các DN để tổng hợp cho Ngành, địa phương. Trên cơ sở đó, phân tích đánh giá nhằm đưa ra các chính sách kinh tế thích hợp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô. Đồng thời hỗ trợ, tư vấn cho các doanh nghiệp có định hướng phù hợp với thời điểm hiện tại, tuân thủ đúng quy tắc mà Nhà nước, Bộ Tài chính đã ban hành.
Công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, mục tiêu và vai trò của công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại - Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp: phân tích tài chính doanh nghiệp là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ của doanh nghiệp, nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính được những nguy cơ có thể xảy ra và tiềm năng trong tương lai của một doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích đưa ra các quyết định tài chính có liên quan đến lợi ích của 10 họ trong DN đó. Lê Thị Xuân, Học viện Ngân hàng, Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp) - Khái niệm về PTTC KHDN trong hoạt động tín dụng tại NHTM: PTTC KHDN tại các NHTM là một quy trình thu thập số liệu của khách hàng, xác minh sự trung thực của BCTC từ đó sẽ phân tích tình hình, khả năng tài chính, thanh khoản để xem có đủ khả năng trả nợ hay không,… Cuối cùng, ngân hàng sẽ quyết định cấp tín dụng cho khách hàng này nếu đạt yêu cầu.
- Mục tiêu của PTTC KHDN trong hoạt động tín dụng tại NHTM Mục tiêu của công tác này là nhằm giúp các NHTM đánh giá được hiện trạng và năng lực tài chính của doanh nghiệp; khả năng sinh lời, thanh khoản cũng như triển vọng phát triển của doanh nghiệp đó trong tương lai, để có thể ra quyết định tài trợ một cách hiệu quả. Đảm bảo được việc thanh toán của doanh nghiệp khi đến hạn, giảm thiểu rủi ro, tránh tình trạng thất thoát vốn của Ngân hàng. - Vai trò của công tác PTTC KHDN tại các NHTM Thứ nhất, là cơ sở để các Ngân hàng thương mại quyết định cho vay.