CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Giới thiệu về COSO và BASEL Vào thập niên 1970 – 1980 cùng với sự phát triển về kinh tế, các vụ gian lận ngày càng tăng với quy mô lớn, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh tế. Vì vậy, yêu cầu về báo cáo KSNB của công ty cho công chúng là một chủ đề gây nhiều tranh luận. Các tranh luận trên cuối cùng đã đưa đến việc thành lập Ủy ban COSO.
COSO (The Committee of sponsoring Organizations of Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên báo cáo tài chính, thường gọi là Ủy ban Treadway được thành lập vào năm 1985. Dấu móc quan trọng của cơ sở lý luận về hệ thống KSNB là Báo cáo COSO 1992. Báo cáo bao gồm 5 yếu tố (bộ phận) cấu thành: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Các yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
COSO 1992 được Ủy ban Treadway không ngừng đổi mới và khắc phục nhược điểm. Năm 2001 Ủy ban Treadway triển khai nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp và COSO 2004 chính thức được ban hành vào năm 2004, COSO 2004 mở rộng thêm 3 yếu tố là: Thiết lập các mục tiêu, nhận dạng sự kiện tiềm tàng và phản ứng với rủi ro. COSO 2004 đã đem lại nhiều lợi ích về mặt kiểm soát nội bộ doanh nghiệp nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết về chuẩn hóa các nguyên tắc phù hợp hơn với môi trường kinh doanh đang thay đổi nhanh chóng và ngày càng khắt khe thì COSO 2013 e 12 chính thức phát hành vào tháng 5 năm 2013.
COSO 2013 tổng kết những thay đổi trong hoạt động và môi trường kinh doanh trong vòng 20 năm thực hiện COSO 1992. COSO 2013 giữ lại định nghĩa của KSNB và 5 yếu tố cấu thành của KSNB, sự thay đổi có ý nghĩa nhất chính là hệ thống hóa 17 nguyên tắc để hỗ trợ cho 5 yếu tố, 17 nguyên tắc chính là những khái niệm cơ bản ẩn chứa trong COSO 1992. Để KSNB một cách hiệu quả, COSO 2013 yêu cầu mỗi yếu tố trong số 5 yếu tố và 17 nguyên tắc có liên quan phải được trình bày và thực hiện, 5 yếu tố phải được vận hành cùng nhau trong một cơ chế tổng hợp. Nghiên cứu KSNB chuyên sâu hơn vào những ngành cụ thể như hoạt động ngân hàng là Báo cáo Basel.
Báo cáo được ban hành bởi Ủy ban Basel. ỦY BAN BASEL (Basel Committee on Banking supervision-BCBS) thuộc cơ quan giám sát ngân hàng được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển thuộc nhóm G10 tại thành phố Basel, Thụy Sỹ. Nhiệm vụ quan trọng nhất của ủy ban này là phát triển các quy định trong hoạt động ngân hàng nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng quốc tế ổn định và lành mạnh; đưa ra các nguyên tắc và hướng dẫn về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động ngân hàng; giảm bớt sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế có vai trò quan trọng đối với toàn hệ thống tài chính. Ủy ban Basel đã nghiên cứu và đưa ra các chuẩn mực vốn quốc tế và các phương pháp đo lường vốn, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các nguyên tắc cơ bản về giám sát Ngân hàng và được ban hành lần đầu vào năm 1988 gọi là Basel I.
Basel I chủ yếu tập trung vào rủi ro tín dụng và tài sản có điều chỉnh rủi ro. Tài sản của ngân hàng được chia thành 5 nhóm theo rủi ro tín dụng có hệ e 13 số rủi ro là 0%, 10%, 20%, 50% và 100%. Basel I nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ vốn an toàn trong hoạt động ngân hàng. Các Ngân hàng được yêu cầu nắm giữ số vốn tối thiểu bằng 8% tài sản có điều chỉnh rủi ro.
Năm 1996 Basel I có nhiều sửa đổi nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Khắc phục điều này thì tháng 6 năm 1999, Ủy ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: Quy định yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; Quy trình kiểm tra kiểm soát của Cơ quan chủ quản; Nguyên tắc thị trường và minh bạch thông tin, đến ngày 26/6/2004 Basel II chính thức được ban hành và có hiệu lực từ ngày 31/12/2006. Basel II được coi là một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính. Để phù hợp với luận văn và thực tế áp dụng tại BIDV, tác giả nghiên cứu COSO 2013 và Basel II làm cơ sở lý luận cho luận văn.
Kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO Ủy ban COSO cập nhật báo cáo của mình về KSNB để đảm bảo tính thích hợp và ứng dụng trong môi trường hiện tại. Sau khi tham khảo các ý kiến về bảng cập nhật sửa đổi thì báo cáo COSO 2013 được chính thức ban hành. Và đến tháng 12/2014 báo cáo COSO 1992 chính thức đượng thay thế bởi COSO 2013.1 Khái niệm KSNB theo COSO Theo COSO (2013): " Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị và các nhân sự trong đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu, báo cáo tài chính đáng tin cậy, đảm bảo hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, đảm bảo luật lệ và quy định phải được tuân thủ". Vai trò của KSNB theo COSO KSNB sẽ giúp cho các nhà quản trị giảm thiểu các rủi ro thông qua việc e 14 phân quyền, ủy nhiệm, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên cảm tính.
Hệ thống KSNB là phương tiện để bộ phận quản lý thực hiện nhiệm vụ, các thông tin này cần đảm bảo tính kịp thời, chính xác và đáng tin cậy về thực trạng hoạt động của đơn vị. Hệ thống KSNB vững mạnh sẽ đem lại cho đơn vị các lợi ích như: Hạn chế và ngăn ngừa những rủi ro không cần thiết hoặc những thiệt hại không đáng có, bảo vệ tài sản khỏi hư hỏng mất mát bởi hao hụt, gian lận, đảm bảo chính xác của các số liệu tài chính, kế toán, thống kê cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay đầu tư, tạo ra cơ chế minh bạch và hiệu quả trong công tác quản lý điều hành, giúp cho tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được các mục tiêu đề ra. Là nền tảng cho việc vận hành, cải thiện hệ thống quản lý và tác nghiệp khi doanh nghiệp tăng trưởng về quy mô hoặc mở rộng ngành nghề. Khi ra quyết định đầu tư thì hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự tin tưởng cho các nhà đầu tư bên ngoài khi doanh nghiệp có nhu cầu thu hút vốn.3 Mục tiêu của báo cáo COSO Gồm 3 mục tiêu: + Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.
+ Báo cáo tài chính đáng tin cậy. + Tuân thủ các luật lệ và các qui định.4 Các bộ phận cấu thành KSNB theo COSO Theo COSO 2013 hệ thống KSNB gồm 5 bộ phận cấu thành và 17 nguyên tắc đi cùng với 5 bộ phận đó. Môi trường kiểm soát: Có 5 nguyên tắc + Nguyên tắc 1: Thể hiện cam kết về tính chính trực và giá trị đạo đức. + Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị thể hiện sự độc lập và thực thi giám sát e 15 sự phát triển và hoạt động của hệ thống KSNB.
+ Nguyên tắc 3: Ban quản lý thiết lập, với ban giám sát, cấu trúc, hệ thống báo cáo,quyền hạn và trách nhiệm một cách phù hợp cho việc thực hiện các mục tiêu đề ra. + Nguyên tắc 4 (cam kết về năng lực) Doanh nghiệp thực hiện cam kết để thu hút, phát triển và giữ lại các nhân viên có năng lực để đáp ứng được các mục tiêu. + Nguyên tắc 5: Doanh nghiệp và cá nhân có trách nhiệm KSNB trong việc thực hiện các mục tiêu. Đánh giá rủi ro: Có 4 nguyên tắc + Nguyên tắc 6: Doanh nghiệp xác định mục tiêu rõ ràng để cho phép việc xác định và đánh giá rủi ro có liên quan đến mục tiêu.
+ Nguyên tắc 7: Doanh nghiệp xác định rủi ro nhằm đạt được các mục tiêu đã định cho toàn bộ doanh nghiệp và sử dụng phân tích rủi ro như là cơ sở quyết định việc quản trị rủi ro ra sao. + Nguyên tắc 8: Doanh nghiệp xem xét khả năng gian lận trong khi đánh giá rủi ro để đạt được các mục tiêu. + Nguyên tắc 9: Doanh nghiệp xác định và đánh giá những thay đổi có thể tác động đáng kể đến hệ thống KSNB. Hoạt động kiểm soát: Có 3 nguyên tắc + Nguyên tắc 10: Doanh nghiệp lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát góp phần giảm thiểu rủi ro đến mức chấp nhận được để đạt được các mục tiêu.
+ Nguyên tắc 11: Doanh nghiệp lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát chung trong công nghệ để đạt được các mục tiêu. + Nguyên tắc 12: Doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kiểm soát thông e 16 qua các chính sách và các thủ tục để đưa vào thực tế. Thông tin và truyền thông: Có 3 nguyên tắc + Nguyên tắc 13: Doanh nghiệp thu thập, tạo ra và sử dụng thông tin có chất lượng liên quan nhằm hỗ trợ các hoạt động KSNB. + Nguyên tắc 14: Doanh nghiệp thực hiện truyền thông thông tin nội bộ bao gồm cả mục tiêu và trách nhiệm KSNB cần thiết để hỗ trợ các chức năng của KSNB.
+ Nguyên tắc 15: Doanh nghiệp thực hiện truyền thông với các đối tượng bên ngoài liên quan đến các vấn đề ảnh hưởng đến chức năng của KSNB. Hoạt động giám sát: Có 2 nguyên tắc + Nguyên tắc 16: Doanh nghiệp lựa chọn, phát triển, thực hiện và đánh giá liên tục hoặc riêng biệt để xác định các thành phần của KSNB có hữu hiệu và đúng chức năng. + Nguyên tắc 17: Doanh nghiệp đánh giá và truyền thông về các khiếm khuyết của hệ thống KSNB để các đối tượng chịu trách nhiệm sẽ tiến hành các biện pháp khắc phục một cách thích hợp. Kiểm soát nội bộ theo Ủy ban Basel 1.1 Khái niệm: Theo Basel II, “Kiểm soát nội bộ là quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý cấp cao và nhân viên.