CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Các khái niệm về kiểm soát nội bộ Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau. Hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO.
COSO đã định nghĩa Kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau” - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động - Sự tin cậy của báo cáo tài chính - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định” [1, tr.2] Theo quy định tại Thông tư số 44/2011/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 29/12/2011 quy định về Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì : Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tư này và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Từ các định nghĩa trên, kiểm soát nội bộ được hiểu như sau: “Kiểm soát nội bộ là một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận, mọi hoạt động của tổ chức” [1, tr. Đó là quá trình giám sát thường xuyên, là 8 phương tiện để các cấp quản lý trong tổ chức kiểm soát hoạt động của đơn vị mình nhằm đảm bảo hiệu quả, an toàn cho hoạt động, tuân thủ các quy định của pháp luật và đảm bảo sự tin cậy của những thông tin tài chính. KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện.
Trong quá trình vận hành, hệ thống kiểm soát có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con người dẫn đến mục tiêu không được thực hiện. KSNB chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót nhưng không thể đảm bảo là chúng không xẩy ra. Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản để quyết định trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do vậy, người quản lý có thể nhận thức được mọi rủi ro nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá lớn thì không thể áp dụng các thủ tục kiểm soát.
Có thể nhận thấy rằng, kiểm soát nội bộ không chỉ dừng ở việc ban hành những quy trình, quy định, ban hành những chính sách mà còn thể hiện ở những cá thể trong tổ chức bao gồm Hội đồng quản trị, ban điều hành, nhân viên trong tổ chức. Kiểm soát nội bộ hình thành và hoạt động bởi con người. Chất lượng hoạt động của kiểm soát nội bộ được đánh giá bởi các cơ quan kiểm toán độc lập, các cơ quan nhà nước. Hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả sẽ là cánh tay phải đắc lực của nhà quản trị trong quản lý và điều hành hoạt động của tổ chức.
Hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đảm bảo cung cấp các thông tin đáng tin cậy báo cáo tài chính, tính tuân thủ pháp luật trong các hoạt động của tổ chức. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Mỗi đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện. Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị, hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị. Mục tiêu mà của Hệ thống kiểm soát nội bộ của các TCTD thiết lập được chi thành 9 03 nhóm sau: - Mục tiêu hoạt động: Các chính sách mà ngân hàng đưa ra phải được đảm bảo về tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động; đảm bảo việc bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế, an toàn, có hiệu quả.
Do đó, ngân hàng phải có khả năng kiểm soát và phòng chống được các rủi ro mà ngân hàng gặp phải trong toàn bộ các hoạt động quản lý, điều hành, tác nghiệp. - Mục tiêu thông tin: Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời. Ngân hàng phải có được một hệ thống sổ sách, hồ sơ, báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động đầy đủ, chính xác và kịp thời để cung cấp cho các cấp điều hành của ngân hàng, các cơ quan chức năng giám sát ngân hàng và các đối tác bên ngoài khi cần thiết. Thông tin gửi tới HĐQT, ban điều hành và các đối tượng khác phải đáng tin cậy, đầy đủ và trung thực để họ có thể dựa vào thông tin này để ra các quyết định quản lý, điều hành hoặc tác nghiệp đúng đắn.
- Mục tiêu tuân thủ: Bảo đảm tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ. Mọi nghiệp vụ và hoạt động trong ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định, các cơ chế chính sách, pháp luật hiện hành, các chiến lược, các chính sách kinh doanh và quy trình nghiệp vụ mà các cấp lãnh đạo quản lý và điều hành của ngân hàng đã quy định trong các văn bản quy phạm hoặc có tính quy phạm. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Năm yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát được Uỷ ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng cụ thể hoá thành 13 nguyên tắc cơ bản sau: - Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và kiểm tra định kỳ toàn bộ chiến lược kinh doanh và những chính sách quan trọng của ngân hàng; hiểu rõ những rủi ro trọng yếu của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể chấp 10 nhận đối với các rủi ro này và đảm bảo rằng Ban điều hành đã thực hiện các bước cần thiết để xác định, đo lường, giám sát và kiểm tra những rủi ro này; phê duyệt cơ cấu tổ chức; và đảm bảo rằng Ban điều hành đang giám sát sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm sau cùng về việc thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ đầy đủ và hiệu quả.
- Nguyên tắc 2: Ban điều hành chịu trách nhiệm thi hành những chiến lược và chính sách đã được phê duyệt bởi Hội đồng quản trị; nâng cao việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm tra những rủi ro mắc phải của ngân hàng; duy trì một cơ cấu tổ chức trong đó có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan hệ giữa các bộ phận; đảm bảo rằng đã thực hiện nhiệm vụ được giao phó một cách có hiệu quả; thiết lập những chính sách kiểm soát nội bộ thích hợp; kiểm tra sự đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. - Nguyên tắc 3: Hội đồng quản trị và Ban điều hành có trách nhiệm nâng cao đạo đức và tính chính trực, thiết lập văn hoá trong đó nhấn mạnh và làm cho tất cả nhân viên thấy rõ tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ. Tất cả nhân viên ngân hàng cần phải hiểu vai trò của mình trong quá trình kiểm soát nội bộ và thực sự tham gia và quá trình đó. Nhận biết và đánh giá rủi ro - Nguyên tắc 4: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi rằng những rủi ro trọng yếu ảnh hưởng có hại đến việc hoàn thành mục tiêu của ngân hàng phải được nhận biết và đánh giá liên tục.
Sự đánh giá này phải bao trùm tất cả các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng (đó là, rủi ro tín dụng, rủi ro chính sách quốc gia, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro vận hành, rủi ro 11 pháp lý và rủi ro thương hiệu). Kiểm soát nội bộ cần xem lại những rủi ro chưa được kiểm soát trước đây cũng như mới phát sinh. Hoạt động kiểm soát và sự phân công, phân nhiệm - Nguyên tắc 5: Hoạt động kiểm soát phải là một công việc quan trọng trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi phải thiết lập một cơ cấu kiểm soát thích hợp, trong đó sự kiểm soát được xác định ở mỗi mức hoạt động.
Những điều này bao gồm kiểm tra ở mức độ cao nhất; kiểm tra hoạt động đối với các bộ phận, các phòng ban khác nhau; kiểm kê; kiểm tra sự tuân thủ những quy định ban hành và theo dõi sự không tuân thủ; một hệ thống đã được phê duyệt và uỷ quyền; và, một hệ thống kiểm tra và đối chiếu. - Nguyên tắc 6: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi rằng có sự phân công nhiệm vụ hợp lý và các nhân viên đó không được phân công mâu thuẫn với trách nhiệm. Những xung đột về quyền lợi phải được nhận biết, giảm thiểu tối đa và tuỳ thuộc vào sự kiểm soát độc lập, thận trọng. - Nguyên tắc 7: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi có dữ liệu đầy đủ và tổng thể về sự tuân thủ, về tình hình hoạt động và tình hình tài chính, cũng như là những thông tin thị trường bên ngoài về những sự kiện và điều kiện mà nó xác đáng đến việc đưa ra quyết định.
Thông tin phải đáng tin cậy, kịp thời, có thể sử dụng được và được trình bày theo biểu mẫu. - Nguyên tắc 8: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi một hệ thống thông tin đáng tin cậy, có thể đáp ứng cho hầu hết các hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Hệ thống này phải được lưu trữ và sử dụng dữ liệu bằng máy tính, an 12 toàn, được theo dõi độc lập và được kiểm tra đột xuất, đầy đủ. - Nguyên tắc 9: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi kênh trao đổi thông tin hiệu quả để đảm bảo rằng tất cả nhân viên đã hiểu đầy đủ và tuân thủ triệt để các chính sách và các thủ tục có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ của họ và đảm bảo rằng những thông tin cần thiết khác cũng đã được phổ biến đến các nhân viên có liên quan.