CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG NGÂN QUỸ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát KSNB trong hoạt động ngân hàng thương mại 1. Khái niệm KSNB trong hoạt động ngân hàng thương mại Theo ủy ban Basel (năm 2004) - “KSNB là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng quản trị, ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó không chỉ là một thủ tục hoặc một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn tiếp diễn ở tất cả các cấp trong ngân hàng.
Hội đồng quản trị và Ban điều hành thiết lập môi trường văn hóa tạo thuận lợi cho quá trình KSNB được hiệu quả và việc theo dõi sự hiệu quả đó được diễn ra liên tục. Mỗi cá nhân trong một tổ chức phải tham gia vào quá trình đó”. Các mục tiêu chủ yếu của KSNB bao gồm Mục tiêu hoạt động kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo các hoạt động trong ngân hàng an toàn và hiệu quả. Mục tiêu thông tin kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo các thông tin quản trị và tài chính đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy.
Mục tiêu tuân thủ kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo các hoạt động của ngân hàng tuân thủ các quy định pháp luật và đạo đức kinh doanh. Chức năng của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo ủy ban Basel (năm 2004) hệ thống KSNB trong ngân hàng có ba chức năng: Ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý nghiệp vụ Các thủ tục kiểm soát phải được thiết sao cho có thể hướng các nghiệp vụ kinh tế xảy ra đúng nguyên tắc quy định, nhằm ngăn chặn kịp thời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay cố ý có thể xảy ra gây thất thoát tiền bạc hoặc tài sản của e 8 ngân hàng, gây ra thiệt hại trong kinh doanh. Chẳng hạn như để ngăn chặn thất thoát tiền bạc, ngân hàng quy định mọi khoản thu chi trước khi thu quỹ thực hiện đều phải qua xét duyệt của kế toán, kiểm soát viên, kế toán trưởng… Bảo vệ ngân hàng trước những thất thoát tài sản có thể tránh Ngân hàng phải giữ gìn một lượng tiền mặt đủ lớn đủ loại bao gồm tiền mặt và các phương tiện chuyển nhượng, chúng đòi hỏi phải được bảo quản về mặt vật chất cả trong khâu lưu trữ cũng như di chuyển tiền. Vì lý do này ngân hàng cần thiết lập các quy trình hoạt động, xác định rõ giới hạn tự do cá nhân và lập ra hệ thống kiểm soát chặt chẽ đối với tài sản.
Ngoài đặc trưng trên hầu hết các tài sản ngân hàng đều không thể kiểm đếm được. Những tài sản này phần lớn bao gồm một giá trị lớn các khoản phải thu (phải thu tiền vay, phải thu tiền lãi, khoản dự phòng nợ khó đòi), các tài sản ngoại bảng (cam kết bảo lãnh, cam kết cho vay,…) đòi hỏi ngân hàng phải đặc biệt chú trọng thiết lập một quy trình chặt chẽ đảm bảo kiểm soát được đầy đủ các tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng. Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh Cơ cấu KSNB cần được thiếp lập bao gồm những thủ tục để đảm bảo chính sách kinh doanh của ngân hàng được tất cả các nhân viên ngân hàng chấp hành. Chẳng hạn cần phải thiết kế các biện pháp kiểm tra để đảm bảo các cán bộ giao dịch viên thực hiện đúng các quy trình ngân hàng đã quy định về thu chi tiền mặt… 1.
Trách nhiệm của các đối tượng liên quan đến KSNB trong ngân hàng Trách nhiệm của Hội đồng quản trị Ban hành và định kỳ xem xét đánh giá lại các chiến lược kinh doanh và các mục tiêu, chính sách lớn của TCTD. Chịu trách nhiệm cuối cùng về cơ cấu tổ chức, phân cấp ủy quyền, các quy định về quản lý kinh doanh, quản trị, điều hành, kiểm tra, KSNB và e 9 kiểm toán nội bộ. Đảm bảo việc Tổng giám đốc (Giám đốc) thiết lập và duy trì hệ thống kiểm tra, KSNB hợp lý và có hiệu quả, hệ thống nhận dạng, đo lường, đánh giá và quản lý rủi ro trong mọi hoạt động của TCTD, hệ thống đánh giá vốn, hệ thống BCTC và thông tin trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời. Định kỳ ít nhất một năm một lần xem xét, đánh giá lại hệ thống kiểm tra.
Thực hiện kịp thời các ý kiến chỉ đạo, các yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước về việc kiểm tra, KSNB tại TCTD của mình, giám sát và đôn đốc việc thực hiện. Trách nhiệm của tổng giám đốc (Giám đốc) Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị trong việc triển khai thực hiện chiến lược kinh doanh và các mục tiêu, chính sách lớn đã được thông qua. Thực hiện thiết lập, duy trì và phát triễn hệ thống kiểm tra, KSNB hợp lý và hoạt động có hiệu quả đáp ứng được yêu cầu về nhận dạng, đo lường, đánh giá và quản lý rủi ro, phương pháp đánh giá vốn hợp lý, đảm bảo TCTD hoạt động. Xây dựng, ban hành các quy trình nghiệp vụ cụ thể đối với mọi hoạt động của TCTD, đảm báo có cơ chế kiểm tra, kiểm soát, cơ chế quản lý rủi ro gắn với từng quy trình nghiệp vụ cụ thể.
Duy trì và thực hiện cơ cấu tổ chức, phân cấp ủy quyền và thông tin quản lý trung thực hợp lý, đầy đủ và kịp thời. Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ. Định kỳ báo cáo Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát kết quả tự đánh giá về hệ thống kiểm tra, KSNB và kiến nghị, đề xuất nhằm chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện hệ thống kiểm tra, KSNB. Trách nhiệm của Ban kiểm soát Chỉ đạo, điều hành Bộ phận kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm tra, KSNB; hệ e 10 thống nhận dạng và quản lý rủi ro; phương pháp đánh giá vốn; hệ thống thông tin BCTC và thông tin quản lý; các quy trình, quy định cụ thể của TCTD.
Định kỳ báo cáo Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc về hệ thống KSNB và kiến nghị, đề xuất nhằm chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện hệ thống KSNB. Trách nhiệm của Trưởng kiểm toán nội bộ Trưởng kiểm toán nộ bộ phải đảm bảo thực hiện đầy đủ mọi chức năng nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến công tác kiểm tra đối với hệ thống kiểm tra, KSNB về kiểm toán nội bộ của TCTD do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành và quy định nội bộ có liên quan của TCTD. Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong ngân hàng Sự hữu hiệu của một hệ thống KSNB có thể xem xét theo một trong ba nhóm mục tiêu khác nhau nếu Ban Giám đốc và nhà quản trị đảm bảo hợp lý rằng Họ hiểu rõ mục tiêu hoạt động của tổ chức đang đạt được ở mức độ nào; BCTC đang được lập và trình bày một cách đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định đang được tuân thủ. Ngoài ba tiêu chí nói trên, để đánh giá một hệ thống KSNB là hữu hiệu cần phải đánh giá thêm năm bộ phận cấu thành KSNB có hiệu quả không? Nếu có, thì các bộ phận đó có đang hoạt động hiệu quả không? Vậy năm bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB là năm yếu tố cơ bản cấu thành KSNB và là tiêu chí để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB đó.Tuy nhiên không nhất thiết là mỗi bộ phân hợp thành của hệ thống KSNB đều phải hoạt động như nhau hoặc cùng mức độ ở các tổ chức khác nhau.
Theo quyết định số 13/2018/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một bộ phận KSNB hoạt động có hiệu quả phải đáp ứng những yêu cầu sau Cơ chế phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; đảm bảo tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức tín dụng; e 11 Cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một quy trình nghiệp vụ; Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện các giao dịch; Quy trình và cơ chế thẩm định, kiểm tra, chấp thuận và duyệt cho phép thực hiện các giao dịch; đảm bảo một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 2 cán bộ tham gia, không có cá nhân nào có thể một mình tiến hành thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức được tổ chức tín dụng cho phép phù hợp với quy định của pháp luật. Để đảm bảo cho hệ thống KSNB hoạt động có hiệu quả tránh sự qua loa hình thức, NHNN Việt Nam đã có những quy định cụ thể ràng buộc trách nhiệm của HĐQT, Ban kiểm soát và Tổng Giám đốc các ngân hàng phải thiết lập và duy trì hệ thống kiểm tra, KSNB hợp lý và hiệu quả. Mối quan hệ giữa KSNB hoạt động ngân quỹ với hệ thống KSNB trong ngân hàng Ngân quỹ là hoạt động gắn liền với mọi hoạt động trong hệ thống ngân hàng, dễ thất thoát về mặt vật chất và khó hoàn trả lại, do đó KSNB được xem như một bộ phận quan trọng của hệ thống KSNB trong ngân hàng. KSNB hoạt động ngân quỹ càng chặt chẽ và hiệu quả sẽ góp phần nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong ngân hàng.
Phần lớn hoạt động của các TCTD đều cần đến tiền bằng những cách thức khác nhau. Tiền có mối quan hệ mật thiết với các nghiệp vụ chủ yếu như thu chi tiền mặt với khách hàng, chi tiền lương, chi mua vật tư… nên rất dễ bị sai sót, tham ô, biển thủ hay bị chiếm dụng. Tiền ở các TCTD thường có số phát sinh lớn, nghiệp vụ nhiều, điều này làm cho sai phạm rất dễ xảy ra và nhiều khi khó phát hiện. e 12 Tiền là một tài sản rất nhạy cảm vì khả năng gian lận, biển thủ thường cao hơn các tài sản khác.
Các thủ thuật gian lận thường đa dạng và được che dấu tinh vi. Kiểm soát nội bộ hoạt động ngân quỹ 1. Nội dung của hoạt động ngân quỹ Hoạt động ngân quỹ là hoạt động phục vụ cho việc thu chi tiền mặt, nhập/xuất tài sản, giấy tờ có giá với khách hàng. Nó bao gồm nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng thương mại khác và ở Ngân hàng Nhà nước, tiền trong quá trình thu nhận và cũng có thể bao gồm cả nghiệp vụ về các tài sản quý và giấy tờ có giá khác.