Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát kê khai và tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát kê khai và tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát kê khai và tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT KÊ KHAI VÀ TẠM NỘP THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.
Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp * Khái niệm về thuế Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau. Theo Lê Nin, “Thuế là cái mà nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “Thuế cấu thành nên nguồn thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”.[12] Bàn về mối liên hệ giữa thuế và Nhà nước, Mác viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”.[13] Ang-ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má”.[1] Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước.” Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm về thuế dựa theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14: “Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế.”[18] 6 Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã ban hành hệ thống thuế gồm nhiều các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho NSNN như: thuế Giá trị gia tăng, thuế TNDN, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Tài nguyên…Trong đó, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập.
* Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Ở Việt Nam, Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức. Từ khi ra đời, Luật thuế TNDN đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn, với thông lệ quốc tế và đảm bảo chính sách thuế ngày càng công khai, minh bạch. Về khái niệm thuế TNDN, theo Giáo trình Chính sách và Nghiệp vụ thuế của TS. Lê Hoằng Bá Huyền, nhà xuất bản Lao động (2016): “Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.”[10] Khái niệm này đã khẳng định thuế TNDN là sắc thuế đánh trên phần thu nhập chịu thuế còn đối tượng chịu thuế TNDN là các doanh nghiệp.
Theo Giáo trình Thuế của PGS. TS Phan Thị Cúc và TS. Phan Hiển Minh, nhà xuất bản tài chính (2009): “Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí được trừ liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ”.[6] Khái niệm này đã bao quát được các vấn đề cơ bản về thuế TNDN, diễn giải rõ phần thu nhập chịu thuế là phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí được trừ liên quan đến thu nhập. Từ các khái niệm nêu trên, tác giả hiểu theo nghĩa tổng quát: thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế.
Như vậy, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong 7 một kỳ tính thuế và được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Do đó sắc thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khác nhau của cả nước. Đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều, ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp sẽ nộp thuế thấp, thậm chí được giảm thuế, miễn thuế trong các trường hợp khó khăn theo quy định.
Do đây là loại thuế trực thu có tính chất phức tạp nên đòi hỏi NNT phải hiểu rõ luật thuế TNDN để chấp hành một cách tốt nhất, đồng thời việc kiểm soát thuế TNDN từ phía cơ quan thuế hết sức cần thiết nhằm thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra. * Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (gọi là doanh nghiệp) có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật bao gồm: - Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp: công ty cổ phần; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty hợp danh; doanh nghiệp tư nhân; văn phòng luật sư; văn phòng công chứng tư; các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí; xí nghiệp liên doanh dầu khí; công ty điều hành chung. - Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế trong tất cả các lĩnh vực. - Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam. 8 - Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam - Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hoặc tổ chức, cá nhân khác. - Tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ có thu nhập chịu thuế. - Tổ chức nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nộp thuế TNDN theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.
* Thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác. - Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ: + Là doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. + Doanh nghiệp có nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động sản xuất kinh doanh. + Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế TNDN.
- Các khoản thu nhập khác theo quy định của pháp luật: là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh ghi trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. * Thu nhập được miễn thuế Theo quy định của Luật thuế TNDN, các khoản thu nhập của doanh 9 nghiệp được miễn thuế khi xác định thuế TNDN phải nộp nhằm thực hiện chính sách của Nhà nước trong việc khuyên khích phát triển sản xuất đối với những ngành, nghề, lĩnh vực nhất định. Hoặc chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư vào các hoạt động vì mục tiêu xã hội, nhân đạo. Cụ thể: - Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối của hợp tác xã; thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản ở địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản. - Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp gồm: thu nhập từ dịch vụ tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng; dịch vụ phòng trừ sâu, bệnh cho cây trồng, vật nuôi; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp. - Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; thu nhập từ doanh thu bán sản phẩm trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm và thu nhập từ doanh thu bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam. Thời gian miễn thuế tối đa không quá một (01) năm, kể từ ngày bắt đầu có doanh thu bán sản phẩm theo hợp đồng nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ.
Sản xuất thử nghiệm hoặc sản xuất theo công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật. - Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp có số lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm HIV bình quân trong năm chiếm từ 30% trở lên trong tổng số lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp. - Thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn 10 xã hội, người đang cai nghiện, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV/AIDS.