CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1.1 Tổng quan về ngân hàng Trung ương 1.1 Khái niệm về Ngân hàng Trung ương NHTW ra đời trên cơ sở phân hóa hệ thống NHTM. Quá trình này diễn ra song song với việc tách riêng chức năng phát hành tiền và chức năng kinh doanh tiền tệ của hệ thống NH. Sự ra đời của NHTW là một quá trình lịch sử lâu dài, gắn liền với quá trình phát triển và phân hóa trong hệ thống NH. Đặc trưng trước hết của một NHTW thể hiện ở chức năng NH của nó thông qua nghiệp vụ phát hành tiền cho toàn bộ nền kinh tế, nghiệp vụ nhận tiền gửi, cung ứng dịch vụ tín dụng và tổ chức thanh toán cho các NH.
Trên cơ sở các hoạt động nghiệp vụ đó, NHTW thực hiện vai trò quản lý Nhà nước các hoạt động về tiền tệ và NH vì mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Tùy thuộc vào mỗi quốc gia mà NHTW có các tên gọi khác nhau, chẳng hạn như: Các nước Anh, Pháp, Nhật Bản, Thái Lan lấy tên nước đặt tên cho NHTW là NH Anh, NH Pháp, NH Nhật Bản, NH Thái Lan; Ở Singapore NHTW gọi là Cơ quan tiền tệ; Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Cộng hòa Liên bang Đức, NHTW gọi là Cục Dự trữ liên bang; Ở Trung Quốc gọi là NH Nhân dân; Ở Việt Nam có tên gọi là Ngân hàng Nhà nước. Hiện nay có khá nhiều khái niệm NHTW được đưa ra, sau đây là một vài khái niệm tiêu biểu: NHTW (Central Bank) được các kinh tế gia khái niệm như sau: NHTW là NH được Nhà nước giao cho độc quyền phát hành tiền, kiểm soát dự trữ vàng, kiểm soát tín dụng và thực hiện việc điều hòa thanh toán cho cả hệ thống NH trong nước. Quan điểm của Pháp về NHTW như sau: NHTW là cơ quan phát hành tiền và đầu não của hệ thống NH trong nước và mặc nhiên trở thành thiết chế quản lý ngoại tệ và dự trữ quốc gia cho chính quyền Nhà nước, cung ứng điều tiết tiền tệ, bảo vệ giá trị của nội tệ, quản lý hoạt động NH.
5 Quan điểm của Nhật Bản về NHTW như sau: NHTW là một thiết chế phát hành tiền, điều tiết cung ứng tiền tệ, quản lý lưu thông tiền tệ, đại diện về tài chính của Chính phủ trong và ngoài nước. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ban hành ngày 16/06/2010 thì “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là NHTW của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động NH và ngoại hối; thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, NH của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về NHTW như sau: NHTW là NH độc quyền phát hành tiền trong mỗi quốc gia, là NH của các NH và là NH của Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và các hoạt động NH đối với các NH trung gian. * Các Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Trung ương - Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ - Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia - Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng cho các Ngân hàng thương mại - Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng cho Chính phủ - Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống Ngân hàng 1.2 Chức năng của Ngân hàng Trung ương a) Chức năng phát hành tiền Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền mặt (gồm tiền giấy và tiền kim loại).
Thông qua chức năng này, ngân hàng trung ương có thể tác động và ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ quốc gia, từ đó ảnh hưởng đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế. Ngân hàng trung ương cung ứng tiền vào lưu thông qua bốn kênh: - Kênh tín dụng đối với chính phủ: hay còn gọi là kênh ngân sách nhà nước. Thông thường, ngân sách nhà nước rơi vào trạng thái sau: ngân sách nhà nước cân bằng, ngân sách nhà (thặng dư), ngân sách nhà nước bội chi (thâm hụt). 6 Phát hành tiền qua kênh tín dụng đối với chính phủ không chỉ đáp ứng trong trường hợp để xử lý bội chi trong ngân sách nhà nước mà còn cung ứng vốn trong ngân sách nhà nước theo từng đợt phát hành trái phiếu chính phủ.
- Kênh tín dụng đối với hệ thống ngân hàng trung gian Ngân hàng trung ương có thể cho vay đối với các ngân hàng trung gian với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng hoặc với tư cách là ngân hàng điều tiết. Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới các hình thức: Cho vay tái cấp vốn và cho vay thanh toán. - Kênh thị trường mở Ngân hàng trung ương tổ chức và thực hiện mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng trên thị trường mở. - Kênh thị trường ngoại hối: Ngân hàng trung ương với tư cách là cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước phải can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cần thiết và không vì mục đích lợi nhuận.
Khi cung cầu ngoại hối mất cân đối thì ngân hàng trung ương can thiệp với tư cách là người mua, người bán trên thị trường. b) Chức năng ngân hàng của các ngân hàng - Mở tài khoản, nhận tiền gửi và quản lý các khoản tiền gửi của các ngân hàng trung gian. - Trung gian thanh toán giữa các ngân hàng trung gian. - Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian.
c) Chức năng ngân hàng của Nhà nước: Làm đại lý cho chính phủ trong việc phát hành trái phiếu chính phủ cũng như thanh toán các tiền gốc và lãi trái phiếu; mở tài khoản và giao dịch với hệ thống kho bạc Nhà nước; thực hiện thanh toán theo yêu cầu của chính phủ; cấp tín dụng cho chính phủ khi cần thiết,. 7 d) Chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và các hoạt động ngân hàng - Quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng: Ngân hàng trung ương thực hiện quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hoạt động của hệ thống ngân hàng. - Thực hiện quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế trên lĩnh vực tiền tệ ngân hàng: Nhằm các mục tiêu ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và hạn chế thất nghiệp. Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân 1.1 Khái niệm về Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ 19 ở các nước Châu Âu và đầu thế kỷ 20 ở Canada và Hoa Kỳ.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, những người nông dân bị bần cùng hoá buộc phải tìm cách hợp tác, giúp đỡ nhau về vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống. Từ những tổ chức sơ khai hình thành ở từng vùng, mang tính tương trợ đơn thuần, dần dần phát triển thành các QTDND hợp tác trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, các tổ chức này được thành lập ở nhiều nước trên thế giới dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như ngân hàng hợp tác xã, hợp tác xã tín dụng, QTDND, quỹ tín dụng và tiết kiệm,. Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Tại Việt Nam, QTDND là tổ chức tín dụng hợp tác được thành lập và hoạt động từ năm 1993, chịu sự điều chỉnh cơ bản bởi Luật Hợp tác xã về tổ chức bộ máy và Luật Các tổ chức tín dụng về nội dung hoạt động. - Theo Luật Hợp tác xã năm 2012, QTDND là một hợp tác xã, được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng nhằm mục tiêu hỗ trợ quyền lợi của cá thành viên. 8 - Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, QTDND là một tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD và Luật HTX nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Mục tiêu hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân Thông thường, mọi doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp công ích) thường lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động.
Tuy nhiên, cũng là một loại hình doanh nghiệp nhưng QTDND lại hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Điều này được lý giải bởi căn nguyên của sự hình thành QTDND, đó là: QTDND ra đời vì mục tiêu tương trợ giữa các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng. Những hoạt động QTDND phải đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển. Mục tiêu tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng là hết sức quan trọng đối với sự sống còn của QTDND, nếu xa rời mục tiêu đó, QTDND sẽ theo đuổi mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần, dẫn đến một trong những tình trạng sau: Một là, để đạt mục tiêu lợi nhuận cao nhất, QTDND sẽ mạo hiểm hơn trong các khoản đầu tư, bỏ qua các nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng và các quy định đảm bảo an toàn hoạt động dẫn đến những rủi ro có thể khiến QTDND đổ vỡ, phá sản; Hai là, khi chạy theo lợi nhuận, QTDND buộc phải dần dần xa rời đối tượng phục vụ truyền thống là các thành viên QTDND bởi vì đây là những đối tượng khách hàng nhỏ lẻ, chi phí cho vay lớn, hiệu quả thấp; Ba là, khi xa rời mục tiêu tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng, QTDND sẽ không phát huy được những ưu thế của loại hình QTDND hợp tác nên khó có thể cạnh tranh được với các loại hình QTDND khác để có thể tồn tại.
Vì vậy, có thể nói mục tiêu “tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng” là kim chỉ nam, là mục đích tự thân và là động lực thúc đẩy sự phát triển của các QTDND.