CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DANH MỤC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay a. Khái niệm hoạt động cho vay + Cho vay: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Theo khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010) + Cấp tín dụng: là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác (Theo khoản 10 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010).
Đặc điểm của hoạt động cho vay - Là quan hệ thị trường, theo hợp đồng. NHTM có danh mục sản phẩm cho vay đa dạng nhất. Ngân hàng với tư cách là người cho vay được quyền kiểm soát việc sử dụng vốn vay của người đi vay - Là hoạt động chủ yếu đối với hầu hết các ngân hàng. Khoản mục cho vay chiếm quá nữa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 tổng thu của NHTM nên cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra thu nhập.
- Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Các hoạt động tín dụng ngân hàng thường hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân hàng tin tưởng cho họ vay vốn. Rủi ro có thể gây nên sự phá sản của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng giảm cũng Luan van 8 có nghĩa là lợi nhuận của ngân hàng tăng lên.
- Thu nhập từ các khoản cho vay là tiền lãi mà người đi vay trả cho ngân hàng. Chỉ có tiền lãi thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gởi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, chi phí quản lý, các khoản phí và chi phí rủi ro đầu tư. - Kinh tế càng phát triển, lượng cho vay của các ngân hàng cũng tăng nhanh và loại hình cho vay cũng trở nên đa dạng. - Cho vay của ngân hàng là lĩnh vực khá phức tạp và thường xuyên thay đổi theo những biến chuyển của môi trường kinh tế.
Do vậy, đối với hoạt động tín dụng, vấn đề mà các ngân hàng quan tâm chính và thường xuyên trăn trở là: (1) Sẽ cho ai vay, (2) Sẽ đầu tư vào lĩnh vực nào (đối tượng đầu tư), (3) Lợi tức có cao không (4) Và có an toàn không. Vai trò của hoạt động cho vay a. Vai trò của hoạt động cho vay đối với nền kinh tế Trên cơ sở những chức năng vốn có của mình, tín dụng ngân hàng có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội thể hiện ở nhiều mặt: - Tín dụng ngân hàng là động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển, là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng, thông qua việc cung ứng vốn kịp thời đầy đủ và linh hoạt cho mọi tổ chức cá nhân. Nguồn vốn phục vụ cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng có thể được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau như tự tích lũy, ngân sách nhà nước cấp phát, liên doanh, vay ngân hàng,.
Trong đó vay ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất. Bởi vì nguồn vốn này được cung ứng đầy đủ, kịp thời và nhanh chóng nhất. Mặt khác, sử dụng vốn vay ngân hàng có tác dụng thúc Luan van 9 đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bởi vì tính chất của nguồn vốn này là hoàn trả đầy đủ và đúng hạn. - Tín dụng ngân hàng góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế.
Thông qua định hướng đầu tư tín dụng với các chính sách nhất định tín dụng ngân hàng có tác dụng rất to lớn đến điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với chính sách và định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kì nhất định. Thực trạng nền kinh tế nước ta trong giai đoạn đổi mới cơ chế kinh tế là một minh chứng rất rõ nét. Với một chính sách tín dụng hợp lý kết hợp với các chính sách tài chính tiền tệ khác, trong một thời gian ngắn nền kinh tế nước ta đã chuyển từ một nền kinh tế lạc hậu với một cơ chế bất hợp lý trở thành một nước có đà tăng trưởng mạnh. Định hướng đầu tư cho nền kinh tế đúng như đường lối mà Đảng đã vạch ra: coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tập trung sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
- Tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế và tăng cường chế độ hạch toán kế toán. Nguyên tắc họat động của tín dụng là hòan trả đúng hạn đầy đủ và có lãi. Vì thế khi bất kỳ một đơn vị kinh tế xã hội nào có nhu cầu vay vốn tín dụng, điều đầu tiên họ nghĩ đến là phải tính toán hiệu quả sử dụng vốn vay. ở đây đòn bẩy lãi suất có ý nghĩa rất to lớn và là động lực thúc đẩy chế độ hạch toán kế toán, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế.
- Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và điều hòa lưu thông tiền mặt. Hoạt động tín dụng tạo ra tiền ghi sổ; việc sử dụng tiền ghi sổ được thực hiện thông qua việc ghi chép trên sổ sách kế toán ngân hàng; điều này làm giảm đi một lương tiền mặt đáng kể trong lưu thông. Các chi phí liên quan đến phát hành tiền, quản lý và lưu thông tiền được giảm bớt. Mặt khác chính khối lượng tiền có mặt trong lưu thông ít đi đã làm dễ dàng hơn cho công tác quản ký và điều Luan van 10 hòa lưu thông tiền mặt.
- Tín dụng góp phần tăng cường và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Thông qua nguồn vốn đầu tư của tín dụng ngân hàng mà các hoạt đông ngoại thương phát triển, các hoạt động liên doanh góp vốn, các hoạt động có tính đa quốc gia phát triển,. Đó chính là điều kiện và cơ hội để mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp - Kích thích tính năng động linh hoạt của các doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập Ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin không ngừng thay đổi và phát triển một cách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn đứng trước yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp.
Điều đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi máy móc, kỹ thuật, nâng cấp nhà xưởng, đổi mới sản phẩm…và ngân hàng chính là kênh cung cấp vốn tốt nhất cho các doanh nghiệp. Theo đó, đã mang đến cho doanh nghiệp cơ hội nhằm đổi mới kích thích tính năng động của doanh nghiệp, đáp ứng cho sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh tạo tiền đề cho sự phát triển. - Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa những người có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với những người cần vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh, tiêu dùng…. Trên cơ sở huy động nguồn vốn trong dân cư hay đi vay các tổ chức kinh tế khác, ngân hàng cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu vốn. Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những đảm bảo quá trình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng Luan van 11 công nghệ hiện đại để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Từ đó, các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Do vậy, tín dụng ngân hàng đã biến các phương tiện hoạt động có hiệu quả, thu hút nhanh chóng các vật tư, lao động, những tiềm năng sẵn có khác vào quá trình sản xuất.
Phân loại cho vay a. Theo thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoản thời gian mà vốn vay được cấp phát lần đầu cho đến khi vốn vay được hoàn trả sau cùng. - Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến một năm và được sử dụng để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. - Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ trên 01 năm đến 05 năm dùng để đầu tư mua sắm TSCĐ, cải tiến đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay từ trên 5 năm. Loại cho vay này dùng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Theo đối tượng đầu tư - Tín dụng vốn cố định: Các khoản cho vay để hình thành vốn cố định trong các doanh nghiệp. - Tín dụng vốn lưu động: Các khoản cho vay để hình thành vốn lưu động.
Đây là hai loại vốn cơ bản trong một doanh nghiệp có đặc điểm luân chuyển khác nhau vì vậy việc hình thành chúng bằng nguồn vốn tín dụng cũng rất khác nhau. Phân loại tín dụng theo tiêu thức này giúp ngân hàng xây Luan van 12 dựng phương pháp cho vay, thu nợ, tính toán thời hạn nợ, kiểm tra đảm bảo nợ vay phù hợp. Theo mục đích sử dụng vốn của người đi vay - Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà ở, đất đai hay bất động sản trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ. - Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ.