phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,… nội dung nghiên cứu chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thanh tra, giám sát hoạt động QTDND. Chƣơng 2: Thực trạng và kết quả công tác thanh tra, giám sát hoạt động QTDND của NHNN chi nhánh tỉnh Quảng Trị. Chƣơng 3: Định hƣớng, mục tiêu và giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát hoạt động QTDND của NHNN chi nhánh tỉnh Quảng Trị. 4 Phần 2: NỘ DUN N ÊN CỨU Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ T ỰC T ỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT N ÂN ÀN Ố VỚ QUỸ TÍN DỤN N ÂN DÂN 1. TỔN QUAN VỀ N ÂN ÀN TRUN ƢƠN 1. hái niệm về Ngân hàng Trung ƣơng NHTW là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia, nhóm quốc gia, vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ, là ngƣời cho vay cuối cùng, đảm bảo an toàn, tránh nguy cơ đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng. Mặc dù vậy, hoạt động kinh doanh của NHTW cũng nhằm mục tiêu quản lý chứ không vì mục đích lợi nhuận.
NHTW là ngân hàng duy nhất đƣợc phép phát hành tiền của mỗi quốc gia. “NHTW là một thể chế tài chính đặc biệt của một quốc gia. Với vai trò điều tiết vĩ mô lĩnh vực Tiền tệ - Ngân hàng, ngân hàng trung ƣơng trở thành trung tâm thần kinh của toàn bộ nền kinh tế, và hoạt động ngân hàng trung ƣơng có ảnh hƣởng và tác động mạnh mẽ nhất đến sự phát triển của nền kinh tế” [5]. Ở Việt Nam, NHTW đƣợc thành lập thuộc sở hữu của nhà nƣớc, gọi là NHNN Việt Nam, là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là NHNN của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nƣớc, thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ [12].
Chức năng của Ngân hàng Trung ƣơng 1. Chức năng phát hành tiền NHTW khi ra đời và hoạt động đã trở thành trung tâm phát hành tiền duy nhất của mỗi quốc gia. Toàn bộ tiền mặt pháp định đều do NHTW phát hành theo chế độ độc quyền phát hành tiền của Nhà nƣớc. Tiền này có hiệu lực sử dụng bắt buộc trong toàn quốc nhƣ là phƣơng tiện trao đổi.
Vì tiền mặt đƣợc xem là loại tiền mạnh nhất trong hệ thống tiền tệ, hơn nữa thông qua nó, tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn đƣợc hình thành. Cho nên, hoạt động cung ứng tiền của NHTW tác động một cách trực tiếp đến độ tăng, giảm của tổng cung tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó ảnh hƣởng đến cả sản xuất và tiêu dùng. Chức năng ngân hàng của các ngân hàng Với vai trò là ngân hàng trung tâm của các ngân hàng và hệ thống tài chính trong mỗi quốc gia, NHTW thực hiện một số công việc quan trọng cho các ngân hàng, đó là: cấp giấy phép kinh doanh tiền tệ cho các ngân hàng, đồng thời xử lý các vụ vi phạm luật lệ ngân hàng; quyết định, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà các ngân hàng phải thi hành; tiến hành thanh tra, kiểm tra các ngân hàng nhằm giúp cho các ngân hàng lành mạnh, trên cơ sở đó bảo vệ quyền lợi của ngƣời gửi tiền và lợi ích chung của nền kinh tế; ấn định lãi suất, lệ phí, hoa hồng áp dụng cho các ngân hàng, quy định các thể lệ điều hành các nghiệp vụ…;mở tài khoản giao dịch và tổ chức thanh toán bù trừ cho các ngân hàng: là cơ quan quản lý nhà nƣớc về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, NHTW chịu trách nhiệm ban hành các hình thức thanh toán, các chế độ, quy trình kế toán thanh toán cho toàn bộ hệ thống ngân hàng áp dụng; tái cấp vốn cho các ngân hàng dƣới hình thức cho vay thế chấp hay ứng trƣớc; chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá…;Cung cấp các thiết bị ngân hàng cho các ngân hàng trung gian… 1. Chức năng quản lý nhà nƣớc Nội dung của chức năng này đƣợc thể hiện trên các phƣơng diện quản lý nhà nƣớc về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng: Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Quản lý nhà nƣớc về các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đối nội cũng nhƣ đối ngoại; Nhận tiền gửi của Kho bạc Nhà nƣớc, cho ngân sách nhà nƣớc vay khi ngân sách bị thiếu hụt tạm thời hoặc bội chi, quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia; Thay mặt Chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, thanh toán với nƣớc ngoài và tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế; Đại diện cho Chính phủ tham gia vào một số tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế với cƣơng vị là thành viên của các tổ chức này. TỔN QUAN VỀ QUỸ TÍN DỤN N ÂN DÂN 1. hái niệm về Quỹ tín dụng nhân dân QTDND xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XIX ở các nƣớc Châu Âu và đầu thế kỷ XX ở Canada và Mỹ. Trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, những ngƣời nông dân bị bần cùng hoá buộc phải tìm cách hợp tác, giúp đỡ nhau về vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống.
Từ những tổ chức sơ khai hình thành ở từng vùng, mang tính tƣơng trợ đơn thuần, dần dần phát triển thành các QTDND hợp tác trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, các tổ chức này đƣợc thành lập ở nhiều nƣớc trên thế giới dƣới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau 6 nhƣ ngân hàng hợp tác xã, hợp tác xã tín dụng, QTDND, quỹ tín dụng và tiết kiệm,. Ở Việt Nam, QTDND là loại hình TCTD hợp tác, do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dƣới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống [14].
Mục tiêu hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân Khác với doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động, QTDND cũng là một loại hình doanh nghiệp nhƣng QTDND hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. QTDND ra đời vì mục tiêu tƣơng trợ giữa các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng. Nếu xa rời mục tiêu đó, QTDND sẽ theo đuổi mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần, dẫn đến một trong những tình trạng mạo hiểm hơn trong hoạt động, bỏ qua các nguyên tắc quản lý và các quy định đảm bảo an toàn; xa rời đối tƣợng phục vụ truyền thống không phát huy đƣợc những ƣu thế của loại hình TCTD hợp tác nên khó có thể cạnh tranh đƣợc với các loại hình TCTD khác để có thể tồn tại, dễ dẫn đến những rủi ro, đổ vỡ, phá sản. Vì vậy, có thể nói mục tiêu “tƣơng trợ thành viên và phát triển cộng đồng” là kim chỉ nam, là mục đích tự thân và là động lực thúc đẩy sự phát triển của các QTDND.
Vai trò của Quỹ tín dung nhân dân - Vai trò kinh tế: là một loại hình tổ chức trung gian tài chính, QTDND góp phần khơi thông nguồn vốn tại chỗ, đặc biệt ở khu vực nông thôn, nơi sự hiện diện của các NHTM rất hạn chế. Nhờ đó, mọi ngƣời dân đều có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng để phát triển sản xuất, kinh doanh và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng trong cuộc sống. Thực tế cho thấy, QTDND đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế trên cơ sở phát huy tính tự chủ, tự cƣờng và phát huy nội lực của từng địa phƣơng. - Vai trò xã hội: Cùng với vai trò kinh tế, QTDND có vai trò xã hội hết sức tích cực.
Thông qua việc cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, QTDND gián tiếp góp 7 phần tạo công ăn việc làm, xóa đói- giảm nghèo và hạn chế nạn cho vay nặng lãi; đồng thời tăng cƣờng mối quan hệ liên kết, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng. Một số đặc trƣng cơ bản của Quỹ tín dung nhân dân - Về hình thức sở hữu: sự khác biệt lớn nhất của QTDND so với NHTM là ở hình thức sở hữu; QTDND thuộc sở hữu tập thể dẫn đến sự khác biệt về cách thức quản lý và hình thức ra quyết định. Mọi thành viên vừa là khách hàng, vừa là chủ sở hữu của QTDND. Nói cách khác, QTDND là loại hình tổ chức “của thành viên, do thành viên và vì thành viên”.
Các thành viên tham gia QTDND đều bình đẳng nhƣ nhau về quyền và nghĩa vụ, không phụ thuộc số lƣợng vốn góp vào QTDND, có quyền tham gia quyết định các vấn đề về định hƣớng, cách thức hoạt động, nhân sự, , việc phân chia lợi nhuận. Ngƣợc lại, các thành viên phải có trách nhiệm bảo đảm cho QTDND hoạt động tốt và đƣợc quản lý lành mạnh. - Nền tảng hợp tác xã: Tổ chức, hoạt động của QTDND theo Luật HTX do vậy hình thức hoạt động của QTDND mang tính hợp tác xã [14], nghĩa là nó liên kết các thành viên (khách hàng-chủ sở hữu); tổ chức và hoạt động của QTDND tuân thủ nguyên tắc HTX, nguyên tắc tự nguyện, tự trợ giúp thông qua hợp tác tƣơng trợ lẫn nhau; nguyên tắc tự quản lý một cách dân chủ, bình đẳng; nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình, đảm bảo đủ bù đắp chi phí hoạt động và có tích lũy để phát triển an toàn và bền vững. CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 1.
hái niệm về thanh tra, giám sát ngân hàng 1.