LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Hiện nay chúng ta đang thực hiện cơ chế quản lý thu thuế theo mô hình tự khai, tự nộp thể hiện tính công khai, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của người nộp thuế. Nhưng vẫn tồn tại những vấn đề bất cập do Luật Quản lý thuế và các Luật thuế khác nói riêng (như thuế GTGT, TNDN, TTĐB, thuế Tài nguyên, thuế sử dụng đất v. ) chưa thống nhất, đồng bộ và thường xuyên thay đổi, cái mới ban hành chưa kịp triển khai thực hiện thì đã bãi bỏ, thay thế cái mới hơn như: Sự thay đổi liên tục về quy trình, thủ tục đăng ký thuế; hệ thống kê khai thuế điện tử; những thay đổi về chính sách trong ưu đãi, miễn giảm thuế và thuế suất, ưu đãi đầu tư các khu kinh tế, cửa khẩu; khu phi thuế quan.
Tuy nhiên song song với những thay đổi ấy đã tạo ra những lối mòn cho các người nộp thuế lợi dụng kẽ hở chính sách, pháp luật của Nhà nước để trốn tránh nghĩa vụ của mình một cách công khai, có hệ thống gây khó khăn cho ngành thuế trong quá trình quản lý, kiểm soát và thực hiện nghĩa vụ thu theo dự toán pháp lệnh. Ảnh hưởng lớn đến việc cân đối NSNN của chính phủ. Trảng Bom là một huyện có số thu tương đối lớn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Trong những năm qua ngành thuế tỉnh Đồng Nai nói chung và địa bàn Trảng Bom nói riêng đang không ngừng từng bước hoàn thiện quy trình quản lý thuế để đảm bảo thu đúng, thu đủ góp phần cân bằng cán cân ngân sách địa phương.
Tuy nhiên, việc thất thu thuế do các yếu tố khách quan và chủ quan là không thể tranh khỏi khi các hành vi trốn thuế, gian lận thuế ngày càng tinh vi. Một số thực trạng nổi trội hiện đang diễn ra trên địa bàn huyện phải kể đến như: Lợi dụng kẽ hở dễ dàng của cơ chế đăng ký kinh doanh thời kỳ hội nhập, rất nhiều công ty lập ra với mục đích bán hoá đơn cho các đơn vị khác trên địa bàn, nhằm kê khai khấu trừ và đưa vào chi phí để trốn thuế GTGT và TNDN. Các cơ sở kinh doanh lâu năm xin giải thể để lập cơ sở mới nhằm mục đích giảm mức thuế khoán phải nộp và rất nhiều hành vi nhằm trục lợi bất chính từ các chính sách thuế cho nên rất khó kiểm soát chặt chẽ việc kê khai, tính thuế và nộp thuế cũng như các hành vi gian lận, trốn thuế của các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh trên địa bàn Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp 2 luật và sự công bằng trong nghĩa vụ thuế cũng như nâng cao tính tự giác cho NNT trong việc khai thuế, tính thuế và nộp thuế, đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” được lựa chọn để nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài Quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Đề tài sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. - Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. - Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài - Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về công tác quản lý các loại thuế liên quan đến khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại huyện Trảng Bom của Chi Cục Thuế Khu Vực Trảng Bom- Thống Nhất từ đó kiến nghị đưa ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn. - Phạm vi không gian: Tại địa bàn huyện Trảng Bom. - Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng thông tin được công bố trên các tài liệu, 3 báo cáo,…trong các năm từ 2020-2022 và điều tra, phỏng vấn trực tiếp NNT, công chức thuế và Lãnh đạo địa phương về công tác quản lý thuế hiện hành. Ý nghĩa của đề án Về mặt lý luận, đề án hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh một cách chi tiết.
Điều đó giúp làm phong phủ thêm những nội dung liên quan đến công tác quản lý thuế. Về mặt thực tiễn, đề án là công trình nghiên cứu đáng tin cậy, có thể giúp cho Chi cục Thuế khu vực Trảng Bom- Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham khảo trong việc nắm bắt thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế khu vực ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và đề án cũng đề xuất một số giải pháp có thể áp dụng trong thực tế tại địa phương. Đề án là công trình nghiên cứu độc lập, đảm bảo tính học thuật, có nội dung và mục tiêu nghiên cứu rõ ràng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan. 4 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1.
Cơ sơ lý luận về quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 1. Khái niệm, nguyên tắc và vai trò của quản lý thuế 1. Khái niệm quản lý thuế Theo L uật quản lý thuế ở Việt Nam (2019), “quản lý thuế là quá trình thực thi các chức năng đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp, tiền phạt; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ, quản lý thông tin NNT, kiểm tra thuế, thanh tra thuế và thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế, tuyên truyền, hỗ trợ NNT. Nguyên tắc của quản lý thuế Theo L uật quản lý thuế ở Việt Nam (2019), có 5 nguyên tắc của quản lý thuế: Mọi tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của luật.
Cơ quan quản lý thuế, các cơ quan khác của Nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý thu thực hiện việc quản lý thuế theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NNT. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý thuế; áp dụng các nguyên tắc quản lý thuế theo thông lệ quốc tế, trong đó có nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế, nguyên tắc quản lý rủi ro trong quản lý thuế và các nguyên tắc khác phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng 5 hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật về hải quan và quy định của Chính phủ.
Vai trò của quản lý thuế Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc bảo đảm nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN. Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, cơ quan thuế bảo đảm thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN. Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế. Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế.
Trên cơ sở đó, cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật thuế. Thông qua quản lý thuế, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Theo quy định của pháp luật thuế, NNT có trách nhiệm phải kê khai thuế. Nội dung kê khai thuế là kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của NNT, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của NNT.
Mặt khác, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của NNT, phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của NNT. Như vậy, có thể thấy, thông qua quản lý thuế, Nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Từ việc kiểm soát các hoạt động kinh tế này, Nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước. Nội dung công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 1.
Công tác lập dự toán Lập dự toán thu thuế là khâu đầu tiên của chu trình ngân sách nhằm đảm bảo khả năng huy động nguồn thu của địa phương trong một năm ngân sách, phục vụ nhu cầu chi tiêu cũng như phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.