Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số van đề cơ bản về quản lý nhân lực Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nhân lực của Trường Đại học Y Thái Bình Chương 4: Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhân lực của Trường Đại học Y Thái Bình CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA MỘT SO VAN DE CO BAN VE QUAN LY NHAN LUC 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp cận van đề quan ly nhân lực theo hai lát cắt đó là học thuật và tác nghiệp. Các nghiên cứu theo lát cắt học thuật chủ yếu nghiên cứu về lý thuyết quản lý nhân lực, các khái niệm, định nghĩa, chức năng, nhiệm vụ, nội dung xoay quanh lý thuyết quản lý nhân lực. Các nghiên cứu theo lát cắt tác nghiệp thường nghiên cứu về quản lý nhân lực trong một lĩnh vực, giai đoạn nhất định hoặc đối với một đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, công ty nhất định.
Các công trình nghiên cứu về lý thuyết quản lý nhân lực ta dé dàng tiếp cận rất nhiều các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước: - Một số công trình nghiên cứu trong nước như: Năm 1999, tác giả Nguyễn Thị Hồng Thủy cho ra đời cuốn sách Quản trị nguồn nhân lực. Năm 2006 Trần Kim Dung, năm 2002 tác giả Nguyễn Thành Hội cũng cho ra đời cuốn sách cùng tên của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thủy. - Một số công trình nghiên cứu nước ngoài như: “Quản lý nguồn nhân lực” tác giả John M.Ivancevich, năm 2010, nhà xuất ban Mc Graw - Hill. Sách “Tối đa hóa năng lực nhân viên” tác giả Wiliam J.
Rothwell, Nhà xuất bản Alphabooks & NXB Lao động xã hội. Đây là những công trình nghiên cứu dé sộ cho ta cái nhìn tổng quan về quản lý nhân lực, hệ thống về cơ sở lý luận về quản lý nhân lực. Những nghiên cứu về quản lý nhân lực trong một lĩnh vực, giai đoạn nhất định hoặc đối với một đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, công ty nhất định. Những nghiên cứu này có tính đa dạng, phong phú hơn: - Liên quan đến quản lý nhân lực trong giai đoạn, năm 2012 tác giả Lê Kim Liên đã đăng bài báo khoa học do báo Công Thương đăng về “Quản lý nguồn nhân lực trong giai đoạn khó khăn”.
Bài viết nói đến những bat ôn của kinh tế vĩ mô đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp phải thu gọn quy mô hoạt động, thậm chí một số doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc tạm ngừng sản xuất, cắt giảm nhân lực. Trước tình hình này, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực là bước đi cần thiết nhằm tối ưu hóa cơ hội của doanh nghiệp trên thị trường. - Rất nhiều công trình liên quan đến quản lý nhân lực tại đơn vị, tổ chức, công ty, doanh nghiệp như: + Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại công ty bưu chính Việt Nam” tác giả Nguyễn Thị Thanh Giang, năm 2011, tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. + Luận văn “Công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty Cô phần thiết bị y tế Hà Nội” tác giả Phạm Tiến Cường, năm 2010, tại Trường ĐHKT, DHQGHN.
+ Luận văn “Giải pháp hoàn thiện công tác quan trị nguồn nhân lực tai Công ty Cé phần Mediamart Việt Nam”, tác giả Pham Văn Thông, năm 2012, tại Trường DHKT, DHQGHN. + Luận văn “Hoan thiện công tác quản trị nguồn nhân lực của Công ty Cé phần Kính Viglacera Dap Cầu”, tác giả Nguyễn Thị Bich Dao, năm 2009, tại Trường DHKT, DHQGHN. + Luận văn “Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại công ty Cổ phan in và bao bì Goldsun”, tác giả Nguyễn Thị Thúy Hang, năm 2010, tại Trường DHKT, DHQGHN. Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu van dé phat triển quan trị nhân lực trong tô chức doanh nghiệp hay một quá trình giai đoạn nhất định như : + Một số van đề phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam của tác giả Bùi Thị Thiêm, năm 1998.
+ Cơ chế đầu tư cho sự nghiệp đào tạo phát triển nguồn nhân lực của tác giả Minh Thu năm 2005. Các nghiên cứu trên đã đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động của công tác quản lý nhân lực, từ đó cung cấp các thông tin cần thiết cho quá trình tìm hiểu về quản lý nhân lực. Tuy nhiên, nghiên cứu còn hạn chế về địa bàn, khu vực hoạt động. Tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề tài, luận văn, luận án đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý nhân lực nhưng những công trình này chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng và còn hạn chế về địa bàn, khu vực hoạt động.Công tác quản lý nhân lực tại Trường Đại học Y Thái Bình chưa có nghiên cứu nảo đề cập tới.
Vì vậy nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác quản lý nhân lực tại Trường Đại học Y Thái Bình” là hết sức quan trong va can thiét. Khái niệm nhân lực va quan lý nhân lực 1. Khái niệm nhân lực - Theo Pham Minh Hạc cho rang: xét trên bình diện quốc gia hay địa phương nhân lực được xác định là “tổng thé các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyền đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HDH”. Theo cách hiểu này, nhân lực là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương.
Một cách chung nhất, có thể hiểu nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuôi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động, nhân lực là tong hợp những năng luc cả về thé lực và trí lực của nhóm người, một tô chức, một địa phương hay một quốc gia. Độ tuổi lao động được qui định cụ thể ở mỗi nước có khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động, tuôi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi. - Nguyễn Hữu Dũng, Viện khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, xem xét nhân lực dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năng động xã hội.
Ở góc độ thứ nhất, nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá tri vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nhân lực thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét nhân lực đưới dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó, phải chuyên nhân lực sang trạng thái động, thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thé chế và giải pháp giải phóng triệt dé tiềm năng con người.
Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá tri lao động thi tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Vì vậy, nhân lực được hiểu là “tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người (thê lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người. Tính thống nhất đó được thê hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người”. - Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trong chương trình cấp Nhà nước KX-07, nhân lực được hiểu là “số dân va chất lượng con người, bao gồm cả thé chất và tinh than, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực phâm chất, thái độ, phong cách làm việc”.
Như vậy, nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng: Về số lượng: nhân lực phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình CNH, HĐH. Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế; nếu thiếu thì không có đủ lực lượng nhân lực cho quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nước.
Về chất lượng: nhân lực được biểu hiện ở thé lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp của người công dân đó là yêu nước, yêu CNXH. Trong ba mặt: thé lực, trí lực, tinh than thì thé lực là nền tảng, cơ so dé phat triển tri lực, là phương thức dé chuyén tải khoa hoc kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh thần đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyên hoá của trí lực thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hang đầu của nhân lực bởi nó có con người mới có thé nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội.
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu nhân lực là tổng hợp những con người cụ thé có khả năng tham gia vào quá trình lao động với các yếu to về thể lực, trí lực, tâm lực; tiềm năng lao động của một tô chức, một địa phương, một quốc gia trong thé thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thé lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia. Khái niệm quản lý nhân lực Quan lý nhân lực (Human Resource Management) liên quan đến hai van dé cơ bản “Quản lý” và “nhân lực”. Quan lý là quá trình làm cho những hoạt động được hoàn thành với hiệu quả cao, băng và thông qua người khác. Vấn đề quản lý có sự phối hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật lãnh đạo.
Nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.