CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ a. Khái niệm kiểm soát nội bộ Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau.
Hiện nay, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO. Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework) đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động - Sự tin cậy của báo cáo tài chính - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định Trong nước Anh, Viện kiểm toán nội bộ đã định nghĩa kiểm soát nội bộ như sau: Kiểm soát nội bộ là một phần của quá trình quản lý, nó là những hoạt động được những người quản lý tiến hành lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách hữu hiệu nhằm tạo ra một mức độ đảm bảo cần thiết để đạt được những mục tiêu sau: - Hoàn tất các mục tiêu và mục đích đã được đề ra cho các hoạt động và các chương trình. 14 - Tính kinh tế và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực; tính trung thực và độ tin cậy của thông tin. - Sự tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và các quy định.
Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ * Theo tài liệu đề cập đến một định nghĩa trong báo cáo của Viện Tiền Tệ Châu Âu “Hệ thống kiểm soát nội bộ của các tổ chức tài chính” rút ra từ hai định nghĩa của Viện kiểm toán viên nội bộ và của COSO: Một hệ thống kiểm soát nội bộ có thể xem là một quá trình, bao gồm tất cả các hoạt động như kiểm soát, tài chính… do Hội Đồng Quản Trị, Ban Kiểm Soát, Ban Tổng Giám Đốc và các cá nhân thực hiện để đảm bảo đạt được các yêu cầu sau: - Thực hiện thành công mục đích và mục tiêu đề ra - Sử dụng các nguồn lực tiết kiệm và hiệu quả - Kiểm soát một cách thích hợp các rủi ro xảy ra và an toàn tài sản - Đảm bảo tính tin cậy và thống nhất của các thông tin tài chính và thông tin quản lý. - Tuân theo các quy định và luật pháp cũng như chính sách, kế hoạch, các quy tắc và quy trình nội bộ. Mục tiêu kiểm soát nội bộ Mỗi đơn vị thường có mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện. Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị, hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị.
Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập thành ba nhóm: - Mục tiêu hoạt động: các chính sách mà doanh nghiệp đưa ra phải được đảm bảo về tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động, đảm bảo việc bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế, an toàn, hiệu quả. 15 Do đó, doanh nghiệp phải có khả năng kiểm soát và phòng chống được các rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải trong toàn bộ các hoạt động quản lý, điều hành, tác nghiệp. - Mục tiêu thông tin: Đảm bảo hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời. Doanh nghiệp phải có được một hệ thống sổ sách, hồ sơ, báo cáo tài chính và hoạt động báo cáo hoạt động đầy đủ, chính xác và kịp thời để cung cấp cho các cấp điều hành của đơn vị, các cơ quan chức năng giám sát và các đối tác bên ngoài khi cần thiết.
Thông tin gửi tới HĐQT, Ban điều hành và các đối tượng khác phải đáng tin cậy, đầy đủ và trung thực để họ có thể dựa vào thông tin này để đưa ra các quyết định quản lý, điều hành hoặc tác nghiệp đúng đắn. - Mục tiêu tuân thủ: Bảo đảm tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy định, quy trình nội bộ. Mọi nghiệp vụ và hoạt động trong doanh nghiệp phải tuân thủ theo các quy định, các cơ chế chính sách, pháp luật hiện hành, các chiến lược, các chính sách kinh doanh và quy trình nghiệp vụ mà các cấp lãnh đạo quản lý và điều hành đã quy định trong các văn bản quy phạm và có tính quy phạm. Các phương pháp, kỹ thuật sử dụng trong quá trình kiểm soát nội bộ Khi tiến hành các cuộc kiểm soát nội bộ, kiểm tra viên & các đoàn kiểm tra có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập bằng chứng, xác minh và đánh giá thông tin.
Sau đây là một số phương pháp chủ yếu áp dụng: a. Phương pháp kiểm soát cơ bản: Là phương pháp dùng để thu thập bằng chứng về mức độ trung thực, hợp lý của số liệu kế toán. Phương pháp này bao gồm 2 bộ phận: - Phương pháp phân tích: là việc so sánh các thông tin, nghiên cứu các mối quan hệ bằng các tỷ lệ, các chỉ số để phát hiện và nghiên cứu về các 16 trường hợp bất thường, chẳng hạn mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Sử dụng phương pháp phân tích để giúp kiểm tra viên làm việc khoa học, có phạm vi hợp lý thu thập các bằng chứng để phân tích, nhận xét và củng cố thông tin nhằm đưa ra ý kiến xác đáng trong báo cáo.
Sử dụng phương pháp phân tích để xét lại tổng thể các thông tin từ đó đi đến kết luận một cách tổng quát về tính hợp lý của các thông tin đó. - Phương pháp kiểm tra chi tiết nghiệp vụ và số dư: Phương pháp này thường được sử dụng để kiểm tra các đối tượng riêng lẻ nhằm nhấn mạnh vào chiều sâu của các vấn đề hoặc các đối tượng có quy mô nhỏ, có nghiệp vụ không phức tạp; tuy nhiên phương pháp này có thể xảy ra những rủi ro nằm trong mối tương quan giữa các đối tượng, đồng thời tốn kém về nhân lực và thời gian. Phương pháp kiểm tra, kiểm soát: Là phương pháp thực hiện các thử nghiệm để thu thập các bằng chứng, đảm bảo rằng hệ thống kiểm soát nội bộ mà kiểm tra viên dựa vào để kiểm soát là một hệ thống có hiệu quả. Phương pháp này được sử dụng dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ là chủ yếu, để kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống này để từ đó có những kiến nghị phù hợp.
Phương pháp đối chiếu: Bao gồm phương pháp đối chiếu trực tiếp và phương pháp đối chiếu logic. - Phương pháp đối chiếu trực tiếp: là phương pháp mà kiểm tra viên tiến hành so sánh đối chiếu về mặt lượng của cùng một chỉ tiêu trên các tài liệu khác nhau (các chứng từ kiểm tra) để tìm ra sai sót, gian lận về chỉ tiêu đó. - Phương pháp đối chiếu logic: là việc nghiên cứu các mối liên hệ bản chất giữa các chỉ tiêu có quan hệ với nhau thông qua việc xem xét mức biến động tương ứng về trị số của các chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp, song có thể có mức biến động khác nhau theo nhiều hướng khác nhau. Phương pháp điều tra: là phương pháp kiểm tra mà theo đó bằng cách này cách khác, kiểm tra viên tiếp cận đối tượng cần kiểm tra nhằm tìm hiểu, thu thập các thông tin cần thiết về tình huống, thực chất, thực trạng của một số sự vụ, bổ sung căn cứ cho việc đưa ra những đánh giá, nhận xét hay kết luận kiểm tra.
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về Ngân hàng Thương Mại NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính. Do vậy, hoạt động kinh doanh ngân hàng mang những đặc điểm rất khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác. Tại Việt Nam NHTM được định nghĩa như sau: là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội 1. Mục tiêu và nguyên tắc kiểm soát nội bộ trong NHTM a. Khái niệm kiểm soát nội bộ của NHTM Theo quy định tại thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 quy định về Hệ thống kiểm soát nội bộ và Kiểm toán nội bộ của tổ chức kiểm soát nội bộ, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì: Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức kiểm soát nội bộ, chi nhánh ngân 18 hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tư này và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.
Theo quyết định 60/QĐ-TGĐ.2015 Về việc ban hành quy định kiểm tra kiểm soát nội bộ của Ngân hàng TMCP Sacombank: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng được thiết lập trên cơ cở phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu mà Ngân hàng đã đề ra”. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ NHTM - Ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý nghiệp vụ: Các thủ tục kiểm soát phải được thiết kế sao cho hướng các nghiệp vụ kinh tế xảy ra đúng nguyên tắc quy định, nhằm ngăn chặn kịp thời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay cố ý có thể gây thiệt hại trong kinh doanh.