phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng về công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín 3 dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tác giả tham khảo một số luận văn thạc sĩ về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của các công trình nghiên cứu tại Việt Nam nhƣ sau: - Luận văn “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Dương” của tác giả Phan Thụy Thanh Thảo (2007), Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. Luận văn của tác giả đã nghiên cứu và đánh giá đƣợc thực trạng hệ thống KSNB hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thƣơng mại trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng.
Tuy nhiên, phạm vi tiếp cận của tác giả là đánh giá thực trạng KSNB hoạt động tín dụng của một nhóm NHTM. Do đó, đánh giá của tác giả còn mang tính chất chung chung, chƣa đi vào phân tích thực tiễn của một ngân hàng cụ thể. Trong khi đó, ở mỗi NH thì cơ chế, chính sách, quy trình quy định, đặc thù hoạt động tín dụng và công tác KSNB cũng khác nhau. Do đó các giải pháp mà tác giả đƣa ra chỉ là những định hƣớng chung, chƣa phải là giải pháp thiết thực đối với một ngân hàng cụ thể nào - Luận văn: “Hoàn thiện công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội” (2010) của tác giả Phạm Thị Huyền Trang.
Luận văn của tác giả tƣơng đối hoàn thiện đã nêu đƣợc những vấn để chung của KSNB, tác giả đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP Quân đội trên cơ sở đó đã nêu ra đƣợc những mặt thành công và hạn chế của công tác KSNB và có các giải pháp kiến nghị phù hợp. Tuy nhiên, tác giả vẫn chƣa phân tích đƣợc những nhân tố nào ảnh hƣởng đến công tác KSNB hoạt động tín dụng cũng nhƣ chƣa đƣa ra các tiêu chí để đánh giá hiệu quả công tác KSNB làm cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng công tác KSNB tại ngân hàng nhằm có các giải pháp sát với thực trạng đơn vị tác giả nghiên cứu. - Luận văn “Tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của Ngân 4 hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” (2011) của tác giả Phạm Thị Mỹ Ly. Trong phần cơ sở lý luận tác giả chỉ nêu đƣợc một số khái niệm về KSNB, phân loại, các nguyên tắc hoạt động của hệ thống KSNB trong các NHTM.
Tuy nhiên các nội dung quan trọng của công tác KSNB vẫn chƣa đƣợc nêu trong đề tài. Chẳng hạn, các nội dung chính của công tác KSNB của hoạt động tín dụng chƣa đƣợc nêu trong luận văn. Ở phần thực trạng, do tác giả không đƣa ra các tiêu chí để đánh giá hiệu quả nên các kết luận đƣa ra chỉ mang tính chất cảm tính, chƣa thuyết phục. Do đó, những giải pháp tác giả nêu ra chƣa sát với tình hình thực tiễn tại chi nhánh - Luận văn “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” (2013) của Nguyễn Thị Quỳnh Tâm.
Luận văn đã đánh giá đƣợc thực trạng công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Agribank dựa trên các tiêu chí, phân tích đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến KSNB hoạt động tín dụng tại Agribank Việt Nam. Tuy nhiên, các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác KSNB hoạt động tín dụng mà tác giả nêu là chƣa đầy đủ và thiếu tính hệ thống. - Luận văn “Hoàn thiện công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng” (2013) của tác giả Phạm Thị Thu Hƣơng. uận văn của tác giả tƣơng đối hoàn thiện đã đánh giá đƣợc thực trạng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thƣơng Chi nhánh Đà Nẵng dựa trên các tiêu chí, tác giả nêu đƣợc các thành công, hạn chế của KSNB tại chi nhánh và có các giải pháp kiến nghị thực hiện.
Tuy nhiên luận văn của tác giả chỉ giới hạn trong phạm vi 1 Chi nhánh chƣa đánh giá đƣợc tổng thể công tác KSNB của cả hệ thống Ngân hàng Ngoại thƣơng để có giải pháp và kiến nghị cho cả hệ thống. Nghiên cứu đề tài “ Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam” sẽ kế thừa một số nội dung cơ sở lý luận của các đề tài trƣớc đặc biệt trong phần thực trạng, tác giả đi sâu 5 phân tích cụ thể công việc kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của Khối quản lý rủi ro (kiểm soát tính tuân thủ) sẽ đƣợc thực hiện nhƣ thế nào từ đó đánh giá đƣợc mặt đƣợc và các mặt còn hạn chế của công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. Cuối cùng tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Dƣới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, hiện nay định nghĩa đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất và sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới đó là định nghĩa của COSO. Báo cáo của COSO đƣợc công bố dƣới tiêu đề “Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất” đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu sau đây: + Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động.
+ Sự tin cậy của báo cáo tài chính. + Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.” Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) cũng dựa trên báo cáo COSO 1992 để đƣa ra lý thuyết về kiểm soát nội bộ ngân hàng. Báo cáo Basel 1998 đã định nghĩa kiểm soát nội bộ trong ngân hàng nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng Quản trị, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên. Nó không chỉ là một thủ tục hay chính sách đƣợc thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ở mọi cấp trong ngân hàng.
Hội đồng Quản trị, các nhà quản lý cao cấp có trách nhiệm thiết lập một nền văn hóa thích hợp để trợ giúp cho quá trình kiểm soát nội bộ 7 cũng nhƣ liên tục giám sát sự hữu hiệu của nó, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia quá trình này. Các mục tiêu chính của kiểm soát nội bộ đƣợc phân loại nhƣ sau: Sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động. Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị. Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan.” Theo quy định tại Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 quy định về Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đƣợc xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tƣ này và đƣợc tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt đƣợc yêu cầu đề ra.
Nguyên tắc hoạt động của hệ thống KSNB trong các Ngân hàng thƣơng mại Để hệ thống KSNB của NHTM hoạt động có hiệu quả cần tuân thủ các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc 1: Các rủi ro có nguy cơ ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả và mục tiêu hoạt động của NHTM phải đƣợc nhận dạng, đo lƣờng, đánh giá thƣờng xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Khi có sự thay đổi về mục tiêu kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ và hoạt động kinh doanh mới, NHTM phải rà soát, nhận dạng rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy trình, quy định kiểm soát nội bộ phù hợp. - Nguyên tắc 2: hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời của các hoạt động của Ngân hàng. Cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp vụ, tại tất cả các đơn vị, bộ phận của Ngân hàng dƣới nhiều hình thức nhƣ: 8 Cơ chế phân cấp uỷ quyền rõ ràng, minh bạch, đảm bảo tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong Ngân hàng.
Cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia mét quy trình nghiệp vụ. Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện các giao dịch. Quy trình và cơ chế thẩm định kiểm tra, chấp thuận và xét duyệt cho phép thực hiện các giao dịch, đảm bảo một quy trình nghiệp vụ có Ýt nhất hai cán bộ tham gia, không có cá nhân nào có thể một mình tiến hành thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức đƣợc Ngân hàng cho phép phù hợp với quy định của pháp luật.