phần mở đầu và kết luận luận văn đƣợc trình bày gồm ba chƣơng cơ bản nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Đắk Lắk. Chƣơng 3: Những giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Đắk Lắk. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Qua tìm hiểu, tác giả đã tìm thấy một số thông tin cần thiết, có nội dung tƣơng tự về công tác huy động vốn để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn.
Mỗi một đề tài nghiên cứu về một ngân hàng thƣơng mại cụ thể, trong một giai đoạn kinh tế khác nhau. Vì vậy, việc tiếp cận cơ sở lý luận hầu nhƣ không có gì khác biệt nhƣng phần đánh giá thực trạng và đƣa ra các giải pháp chỉ phù hợp cho chính ngân hàng đƣợc nghiên cứu. Cụ thể nhƣ sau: - Luận văn thạc sỹ “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” của tác giả Thái Trịnh Nam, năm 2011. Tác giả đã nêu ra những lý luận chung nhƣ khái niệm, chức năng, vai trò của NHTM, các hoạt động cơ bản của NHTM, các hình thức huy động vốn khác nhau, đƣa ra những điểm mạnh, điểm yếu, những yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động huy động vốn tại ngân hàng trong 3 năm (2007 – 2009).
Đồng thời đƣa ra một số giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại trong công tác huy động vốn của ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng. Tuy nhiên, đây là một đề tài nghiên cứu khá rộng về hoạt động huy động vốn nên tác giả cũng gặp một số khó khăn trong quá trình nghiên cứu 6 nhƣ chƣa làm sáng tỏ đƣợc đặc điểm cũng từng đối tƣợng khách hàng để có chính sách tăng huy động vốn hợp lý, đồng thời tác giả chƣa nêu lên đƣợc chỉ tiêu đánh giá kết quả tăng cƣờng nguồn vốn là cơ sở để phân tích thực trạng huy động vốn tại ngân hàng. - Luận văn thạc sỹ “Mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam” của tác giả Bùi Thị Phƣơng Thảo, năm 2012. Tác giả đã phân tích đƣợc những cơ hội và thách thức trong hoạt động huy động vốn của cá NHTM trong giai đoạn 2009 – 2011, từ đó xác định đƣợc mục tiêu và định hƣớng phát triển cho ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
Luận văn này chƣa nêu đầy đủ các nội dung trong công tác mở rộng huy động vốn, tác giả chỉ mới nêu ra các nội dung nhƣ mở rộng đối tƣợng khách hàng, mở rộng hình thức huy động vốn, mở rộng mạng lƣới. Tác giả cần xem xét các nội dung về cơ cấu nguồn vốn huy động, công tác tổ chức, chất lƣợng dịch vụ cũng nhƣ kiểm soát rủi ro của công tác huy động vốn và đặt ra các tiêu chí đánh giá cho các nội dung trên. - Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh Đà Nẵng”của tác giả Nguyễn Hoàng Thơ, năm 2014. Trong phần cơ sở lý luận, tác giả đã trình bày khá chi tiết về vai trò, các hình thức huy động vốn, làm rõ đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng.
Qua việc phân tích thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Bảo Việt, tác giả đã đề xuất đƣợc các giải pháp hoàn thiện huy động vốn tại ngân hàng và các giải pháp cũng có tính thực tiễn. Tuy nhiên, với đề tài là hoàn thiện công tác huy động vốn tác giả chƣa nêu đƣợc bối cảnh môi trƣờng ảnh hƣởng đến công tác huy động vốn cũng nhƣ cách thức tổ chức công tác huy động vốn. Đồng thời, tác giả chƣa nêu lên đƣợc chỉ tiêu đánh giá kết quả huy động vốn là cơ sở để phân tích thực trạng huy động vốn tại ngân hàng. 7 - Luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Bạch Hồng, năm 2014.
Tác giả đã nêu lên đƣợc thực trạng và nguyên nhân hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Chi nhánh trong giai đoạn 2011 – 2013 và đề ra các giải pháp huy động tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, luận văn này chỉ nêu ra các nội dung nhƣ các biện pháp đối với hoạt động huy động tiền gửi, cơ cấu nguồn vốn huy động,… Tác giả chƣa nêu đầy đủ các nội dung hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, mức độ hợp lí của chi phí huy động cũng nhƣ đánh giá chất lƣợng dịch vụ. Tóm lại, việc tham khảo các luận văn để đƣa cho tôi có cái nhìn tổng quan hơn về công tác huy động vốn của các NHTM, phân tích đƣợc thực trạng và từ đó đƣa ra đƣợc các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác huy động vốn. Từ đó, tôi có thể định hƣớng đƣợc cho bài làm của mình.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về huy động vốn Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản của NHTM. Với hoạt động huy động vốn, các NHTM đƣợc phép sử dụng tất cả những công cụ và phƣơng pháp khác nhau để huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế.
Tạo ra thu nhập cho ngƣời gửi tiền từ những khoản tiền nhàn rỗi thông qua công cụ lãi suất là một lợi ích mà hoạt động huy động vốn của ngân hàng mang lại. Hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế dƣới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác. Phân loại nguồn vốn huy động a. Phân loại theo kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời hạn nhất định.
Khoản này thƣờng gắn với các tổ chức kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần nhƣ xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động. Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn. Ngƣời gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích kiếm lời. Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (mà 9 chúng ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích) với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm.
ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò hay việc tạo vốn cho các ngân hàng. Tiền gửi không kỳ hạn Đây là phần tiền huy động tƣơng đối quan trọng ở những nƣớc phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục.
Ngƣời gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho ngƣời thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toàn bằng séc. Đặc biệt ngƣời gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động (máy ATM). Ngân hàng thƣờng bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai: + Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhƣng chỉ trong phạm vi số dƣ tiền gửi.
Loại tài khoản này luôn luôn có số dƣ có. + Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dƣ có hoặc dƣ nợ, thƣờng đƣợc sử dụng cho các tổ chức kinh tế. Số dƣ có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số dƣ nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay. Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho ngƣời gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi.
Tuy nhiên ở nhiều nƣớc có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong đó có Việt Nam) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi này (có những thời điểm đƣợc trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lƣợng cao, hệ thống mạng lƣới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của ngƣời gửi tiền. Phân loại theo đối tượng Huy động vốn từ dân cư Là loại tiền gửi của một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cƣ trong xã hội gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn, thanh toán và sinh lợi. Hình thức huy động đối với khách hàng là cá nhân chính là thu hút đƣợc tiền gửi phi giao dịch Do nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa dạng, tùy theo kế hoạch sử dụng tiền của họ trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai nên ngân hàng quy định nhiều loại kỳ hạn gửi tiền cho khách hàng lựa chọn Đây là khu vực huy động đầy tiềm năng cho ngân hàng.
Vì thế, để khai thác nguồn vốn này, ngân hàng cần chú trọng đa dạng hóa các hình thức huy động cũng nhƣ lãi suất hợp lý. Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế Hình thức mà ngân hàng có thể huy động nhiều nhất từ các TCKT là tiền gửi giao dịch. Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nên các NHTM thƣờng xuyên cải tiến các phƣơng tiện, nâng cao công nghệ thanh toán để thu hút khách hàng gửi tiền và bán thêm các dịch vụ. Ngoài ra, các NHTM còn cung cấp các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn đối với các TCKT khi việc sử dụng vốn trong tƣơng lai đƣợc lập kế hoạch.