Tài liệu: Hoàn thiện chiến lược marketing mix của viettel trong quá trình

Tài liệu chuyên khảo về Hoàn thiện chiến lược marketing mix của viettel trong quá trình đầu tư vào thị trường viễn trình bày khoa học, dễ hiểu, dễ áp

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2015

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ Sở Lý Luận Về Chiến Lược Marketing Mix

Chiến lược marketing mix là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong quản trị kinh doanh hiện đại. Nó đại diện cho sự kết hợp của các yếu tố marketing cơ bản nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Marketing mix bao gồm bốn thành phần chính, thường được gọi là 4P: sản phẩm (Product), giá cả (Price), kênh phân phối (Place), và truyền thông tiếp thị (Promotion). Mỗi yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc định hình trải nghiệm khách hàng và tạo dựng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Việc xây dựng và triển khai chiến lược marketing mix hiệu quả là chìa khóa để doanh nghiệp có thể thích ứng với các thay đổi của môi trường kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, và đạt được sự phát triển bền vững.

1.1. Khái Niệm Marketing Mix Và Chiến Lược Marketing Mix

Marketing mix là tổng hợp các công cụ marketing mà doanh nghiệp sử dụng để đạt được mục tiêu bán hàng trên thị trường mục tiêu. Nó bao gồm các quyết định về sản phẩm dịch vụ, định giá, phân phối, và truyền thông. Chiến lược marketing mix là quá trình lập kế hoạch, tổ chức và điều phối các yếu tố này nhằm tạo ra giá trị tối ưu cho cả doanh nghiệp và khách hàng.

1.2. Vai Trò Của Marketing Mix Trong Phát Triển Doanh Nghiệp

Chiến lược marketing mix giúp doanh nghiệp xác định rõ vị trí thương hiệu trên thị trường, tạo sự khác biệt cạnh tranh, và xây dựng lòng tin khách hàng. Nó cũng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phân tích môi trường kinh doanh, phân khúc thị trường, và định vị sản phẩm một cách hiệu quả.

II. Thực Trạng Chiến Lược Marketing Mix Của Viettel Tại Thị Trường Haiti

Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel thông qua công ty liên doanh Natcom SA đã triển khai hoạt động kinh doanh viễn thông tại Haiti từ năm 2010. Trong quá trình đầu tư quốc tế này, Viettel đã áp dụng chiến lược marketing mix để phù hợp với điều kiện thị trường địa phương. Chiến lược về sản phẩm của Viettel tập trung vào các dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) phù hợp với nhu cầu của người dùng Haiti. Chiến lược giá cả được xây dựng dựa trên khả năng chi trả của khách hàng địa phương. Về kênh phân phối, Viettel sử dụng mạng lưới các điểm bán hàng và các đối tác chiến lược. Chiến lược truyền thông tập trung vào xây dựng nhận thức thương hiệu Natcom trên thị trường.

2.1. Chiến Lược Sản Phẩm Và Dịch Vụ

Viettel cung cấp các gói cước viễn thông di động, internet tốc độ cao, và các dịch vụ giá trị gia tăng. Các sản phẩm được thiết kế để phục vụ nhu cầu của các phân khúc khách hàng khác nhau, từ người tiêu dùng cá nhân đến khách hàng doanh nghiệp.

2.2. Chiến Lược Giá Cả Và Phân Phối

Chiến lược định giá của Viettel cạnh tranh so với các nhà cung cấp khác tại Haiti, đồng thời đảm bảo lợi nhuận kinh doanh. Kênh phân phối được xây dựng thông qua các cửa hàng bán lẻ, đại lý, và nền tảng trực tuyến để tiếp cận rộng rãi khách hàng.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Chiến Lược Marketing Mix Giai Đoạn 2015 2020

Để hoàn thiện chiến lược marketing mix, Viettel cần tập trung vào nhiều khía cạnh quan trọng. Chiến lược sản phẩm nên được nâng cấp với các dịch vụ mới, đặc biệt là những dịch vụ digital phù hợp với xu hướng toàn cầu. Chiến lược định giá cần linh hoạt hơn, có thể sử dụng các mô hình giá động và gói cước đa dạng. Kênh phân phối nên được mở rộng thông qua các nền tảng thương mại điện tửứng dụng di động. Chiến lược truyền thông cần tập trung vào tiếp thị kỹ thuật số, xây dựng thương hiệu mạnh mẽ, và tăng cường tương tác khách hàng. Ngoài ra, việc nâng cao chất lượng đội ngũ marketing và hoàn thiện quy trình tổ chức là những yếu tố then chốt để thực hiện thành công các chiến lược này.

3.1. Hoàn Thiện Chiến Lược Sản Phẩm Và Dịch Vụ

Viettel cần phát triển các sản phẩm mới như 5G, IoT, cloud computing và các dịch vụ giá trị gia tăng tiên tiến. Việc phân khúc sản phẩm rõ ràng theo nhu cầu khách hàng sẽ giúp tăng tính cạnh tranh. Nên tiến hành nghiên cứu thị trường thường xuyên để nắm bắt xu hướng tiêu dùng tại Haiti.

3.2. Tối Ưu Hóa Chiến Lược Giá Và Kênh Phân Phối

Chiến lược định giá nên áp dụng mô hình tiếp thị theo phân khúc với giá cả phù hợp từng nhóm khách hàng. Mở rộng kênh phân phối qua các đối tác kỹ thuật số, tăng cường bán hàng trực tuyến, và xây dựng mạng lưới các cửa hàng thế hệ mới để nâng cao trải nghiệm khách hàng.

3.3. Nâng Cao Chiến Lược Truyền Thông Và Tiếp Thị

Tập trung vào tiếp thị số (digital marketing) bao gồm mạng xã hội, quảng cáo trực tuyến, và email marketing. Xây dựng chương trình khách hàng thân thiết, tăng cường dịch vụ chăm sóc khách hàng, và sử dụng dữ liệu phân tích để cá nhân hóa các chiến dịch marketing.

IV. Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Và Quy Trình Tổ Chức

Thành công của chiến lược marketing mix phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đội ngũ marketingquy trình tổ chức của doanh nghiệp. Viettel cần đầu tư vào đào tạo nhân sự, nâng cao kỹ năng marketing của cán bộ, công nhân viên (CBCNV), đặc biệt là kiến thức về tiếp thị kỹ thuật số. Cần xây dựng cơ cấu tổ chức hiệu quả với các bộ phận marketing, bán hàng, và dịch vụ khách hàng hoạt động phối hợp chặt chẽ. Quy trình làm việc cần được chuẩn hóasố hóa, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động marketing, giảm chi phí, và tăng tốc độ phản ứng đối với thay đổi thị trường. Việc xây dựng hệ thống đánh giá hiệu suất rõ ràng sẽ khuyến khích sự sáng tạocải tiến liên tục.

4.1. Đầu Tư Phát Triển Nguồn Nhân Lực

Thực hiện chương trình đào tạo thường xuyên về chiến lược marketing hiện đại, công nghệ thông tin (CNTT), và phân tích dữ liệu (data analytics). Tuyển dụng nhân tài có chuyên môn cao, xây dựng văn hóa doanh nghiệp khuyến khích sáng tạohọc tập liên tục. Tạo cơ hội phát triển sự nghiệp hấp dẫn để giữ chân nhân viên giỏi.

4.2. Hoàn Thiện Cơ Cấu Tổ Chức Và Quy Trình Làm Việc

Xây dựng bộ phận marketing độc lập với quyền hạn rõ ràngmục tiêu cụ thể. Số hóa các quy trình marketing sử dụng công nghệ thông tin hiện đại, xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu khách hàng (CRM) để tối ưu hóa chiến lược tiếp thị. Thiết lập chỉ tiêu hiệu suất theo KPI rõ ràng và thực hiện đánh giá định kỳ.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING VÀ MARKETING MIX CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về marketing và chiến lược marketing 1. Khái niệm marketing, chiến lược marketing, 1. Khái niệm marketing Trong các doanh nghiệp, khái niệm marketing là khái niệm phổ biến bởi công tác marketing đóng vai trò quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào trong việc kết nối giữa doanh nghiệp với thị trường.

Công tác marketing đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự thành công của bất cứ doanh nghiệp nào. Một chiến lược marketing hoàn thiện sẽ giúp cho doanh nghiệp có được những phương thức hiệu quả về giá, sản phẩm, các kênh phân phối cũng như những chiến lược xúc tiến tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ ra thị trường. Vì vậy, những nghiên cứu về marketing cũng rất nhiều, bao gồm các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Thuật ngữ "marketing" xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào đầu thế kỷ 20 và được đưa vào Từ điển tiếng Anh năm 1944.

Xét về mặt cấu trúc, thuật ngữ "marketing" gồm gốc "market" có nghĩa là "cái chợ" hay "thị trường" và hậu tố "ing" diễn đạt sự vận động và quá trình đang diễn ra của thị trường. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (America Marketing Associate-AMA), các khái niệm về marketing cũng được đưa ra theo từng giai đoạn khác nhau. Cụ thể: Trong năm 1960, theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, marketing là toàn bộ hoạt động kinh doanh nhằm hướng các luồng hàng hóa và dịch vụ mà người cung ứng đưa ra về phía người tiêu dùng và người sử dụng. Khái niệm này chịu ảnh hưởng của tư tưởng marketing truyền thống, nhấn mạnh khâu phân phối, lưu thông hàng hóa, nghĩa là nỗ lực nhằm bán cái đã sản xuất ra, chưa thể hiện được tư tưởng làm sau có thể sản xuất ra một sản phẩm có thể bán được.

Năm 1985, trong tài liệu “The definition of marketing”, từ tờ Marketing News, ấn hành ngày 01 tháng 03 năm 1985, khái niệm này được đề cập đến như sau: “Marketing là một quá trình hoạch định và quản lý thực hiện việc định giá, chiêu 5 thị và phân phối các ý tưởng, hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích tạo ra các giao dịch để thoả mãn những mục tiêu của cá nhân, tổ chức và xã hội”.J McCarthy, trong cuốn "Essentials of marketing" tái bản lần thứ tám năm 2000, "Marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua việc đoán trước các nhu cầu của khách hàng hoặc người tiêu thụ để điều khiển các dòng hàng hóa dịch vụ thoả mãn các nhu cầu từ nhà sản xuất tới các khách hàng hoặc người tiêu thụ". [34] Định nghĩa tổng quát về marketing, Philip Kotler đã nêu khái niệm về marketing trong cuốn "Quản trị marketing", Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, ấn hành năm 2001 như sau: "Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi". Định nghĩa này đã bao trùm cả marketing trong sản xuất và marketing xã hội. Ông còn đề cập đến nhiều phương diện khác nhau của thuật ngữ này trong các tác phẩm của mình, cụ thể, gần đây nhất là trong cuốn "Marketing: An Introduction" (tái bản lần thứ 12) của Gary Armstrong và Philip Kotlery, ấn hành ngày 17 tháng 01 năm 2014 từ NXB Prentice Hall: "Marketing là quá trình tạo dựng các giá trị từ khách hàng và mối quan hệ thân thiết với khách hàng nhằm mục đích thu về giá trị lợi ích cho doanh nghiệp, tổ chức từ những giá trị đã được tạo ra"1.

[28] Theo tài liệu "What is marketing" của trường Đại học Bắc Carolina Wilmington, Hoa Kỳ, khái niệm về marketing của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ được đề cập đến như sau: "Marketing là quá trình lên kế hoạch và tạo dựng mô hình sản phẩm, hệ thống phân phối, giá cả và các chiến dịch promotion nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng thỏa mãn nhu câu các cá nhân hoặc tổ chức nhất định"2. Đây là khái niệm , định nghĩa về marketing này được sử dụng khá phổ biến hiện nay. 1 Phiên bản tiếng Anh: "Marketing is the process by which companies create value from customers and build strong customer relationships in order to capture value from customers in return". 2 Phiên bản tiếng Anh: Marketing is the process of planning and executing the conception, pricing, promotion and distribution of ideas, goods and services to create exchanges that satisfy individual and organizational objectives.

Trích nguồn: http://uncw.edu/career/marketing.html , khai thác thông tin ngày 26/07/2015. 6 Nhìn chung, có khá nhiều khái niệm, định nghĩa liên quan đến thuật ngữ marketing, nhưng theo ý kiến tác giả, có thể hiểu một cách tổng quát, đây là một thuật ngữ chỉ các hoạt động trong các tổ chức, bao gồm cả tổ chức kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận, trong đó có các doanh nghiệp. Marketing bao gồm việc tạo dựng giá trị từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng mô hình sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và chiến dịch xúc tiến, khuyến mãi, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, tổ chức đó. với mục đích nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của các khách hàng, từ đó tăng các giá trị mà khách hàng cũng như doanh nghiệp nhận được.

Khái niệm chiến lược marketing Khi nhắc đến khái niệm "marketing", các học giả, tài liệu nghiên cứu thường đề cập đến khái niệm "chiến lược marketing". Vậy, thế nào được hiểu là "chiến lược marketing"?. Theo Philip Kotler trong cuốn "Quản trị marketing", Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, ấn hành năm 2001: "Chiến lược là hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ Marketing của mình. Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với phức hệ Marketing và mức chi phí cho Marketing".

[12] Theo hai tác giả Baker, Michael trong tài liệu "The Strategic Marketing Plan Audit" vào năm 2008, khái niệm "chiến lược marketing" được nhắc đến như sau: "Chiến lược Marketing là các chiến lược hướng đến mục tiêu cơ bản là tăng doanh số và đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững"3.3] Theo các tác giả Homburg, Christian; Sabine Kuester, Harley Krohmer trong tài liệu "Marketing Management - A Contemporary Perspective" ấn hành năm 2009, tái bản lần thứ nhất tại London, "Chiến lược marketing được hiểu là bao gồm tất cả những hoạt động từ ngắn hạn đến dài hạn nhằm giúp tổ chức, doanh nghiệp phân tích các tình huống có thể xảy ra, để từ đó thiết lập, thẩm định và lựa chọn các chiến lược về định hướng thị trường, góp phần thực hiện mục tiêu lợi nhuận và kết nối thị trường của đơn vị đó"4. [30] 3 Phiên bản tiếng Anh: Marketing strategy is the fundamental goal of increasing sales and achieving a sustainable competitive advantage. Trích nguồn: https://en.org/wiki/Marketing_strategy. 7 Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu một số khái niệm về "chiến lược marketing", theo ý kiến tác giả, có thể hiểu, "chiến lược marketing" là tổng thể các hoạt động định hướng tổ chức, doanh nghiệp, tiến hành các hoạt động, kế hoạch về kết nối sản phẩm, dịch vụ với thị trường, khách hàng, nhằm giúp tổ chức, doanh nghiệp đó đạt được mục tiêu đề ra một cách nhanh chóng và hiệu quả, trong đó có các mục tiêu về lợi nhuận và về giá trị khách hàng nhận được.

Phân tích môi trường vĩ mô và phân tích môi trường ngành trong chiến lược marketing tại các doanh nghiệp Khi nhắc đến chiến lược marketing, các doanh nghiệp không thể không đề cập đến công tác phân tích thị trường, bao gồm phân tích môi trường vĩ mô và phân tích môi trường ngành. Thông thường, các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình PEST để phân tích môi trường vĩ mô và mô hình năm lực lượng cạnh tranh M.Porter để phân tích môi trường ngành. Phân tích môi trường vĩ mô (mô hình PEST) * Mô hình PEST Qua tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu "PESTLE analysis" của tổ chức CIPD (một tổ chức chuyên về nhân sự và phát triển con người của Mỹ, có hơn 135,000 thành viên trên toàn thế giới, được thành lập từ tháng 07 năm 1913 bởi các nhà sáng lập Boots, Cadbury, Chivers và Rowntree, đến nay, tổ chức đã có hơn 100 năm xây dựng và phát triển), tác giả rút ra một số vấn đề cơ bản liên quan đến mô hình PEST. Cụ thể: 4 Phiên bản tiếng Anh: Marketing strategy includes all basic, short-term, and long-term activities in the field of marketing that deal with the analysis of the strategic initial situation of a company and the formulation, evaluation and selection of market-oriented strategies and therefore contribute to the goals of the company and its marketing objectives.

Trích nguồn: https://en.org/wiki/Marketing_strategy. 8 Các yếu tố cơ bản được phân tích trong mô hình PEST Văn hóa – xã Chính trị Kinh tế Công nghệ hội (Political) (Economic) (Technology) (Sociocultural) Hình 1. Các yếu tố cơ bản được phân tích trong mô hình PEST Nguồn: Dịch và tổng hợp từ Từ điển Bách khoa Toàn thư Wikipedia5 PEST là viết tắt chữ cái đầu tiên của các cụm từ Chính trị (political), Kinh tế (economic), Văn hóa – xã hội (sociocultural) và Công nghệ (technological). Đó là bốn yếu tố định hình nên môi trường của một ngành kinh tế.

Các yếu tố này mang tính chất bên ngoài hơn là những gì đang diễn ra trong ngành. Vì vậy, mô hình PEST được các doanh nghiệp sử dụng trong phân tích môi trường vĩ mô. Đây là mô hình thường được sử dụng để phân tích ngành hoặc thị trường, trong khi mô hình SWOT lại dùng để phân tích doanh nghiệp, một bộ phận kinh doanh hay một ý tưởng cụ thể nào đó. Ngày nay, các doanh nghiệp cũng thấy có thêm một số biến thể như mô hình STEEPLE và STEEPLED, tức là bổ sung thêm các yếu tố như Luật pháp (Legal/Legeslative), Đạo đức (Ethics), Môi trường (Environmental) và Nhân khẩu học (Demographic)6.

[3] Theo đó, mô hình PEST phân tích các yếu tố cơ bản sau: (1) Chính trị (Political) Yếu tố chính trị đo lường mức độ chính phủ gây ảnh hưởng lên ngành như thế nào, bao gồm các chính sách về thuế, xuất nhập khẩu, môi trường, quy định internet, giáo dục… Những yếu tố này đều có ảnh hưởng lên cấu trúc ngành cũng 5 Trích nguồn: https://en.org/wiki/PEST_analysis. 6 Trích nguồn: http://www.uk/hr-resources/factsheets/pestle-analysis. 9 như mức lợi nhuận của ngành/doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trên bình diện quốc tế, những yếu tố này sẽ trở nên rất phức tạp hơn nhiều, vì vậy, các DN phải phân tích sự ổn định của nền chính trị, biết các luật lệ địa phương ảnh hưởng đến ngành cũng như doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ