Chương 1: Một sé van để lý luận và pháp luật vé hòa giãi tranh chấp. lao động Chương 2: Thực trang pháp luật Việt Nam vé hòa giãi tranh chấp lao động Chương 3: Hoàn thiên pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hòa giải tranh chấp lao động. MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUAT VE HOA GIẢI TRANH CHAP LAO ĐỘNG 11 Tranh chấp lao động và các phương thức giải quyết tranh chấp lao động. Khái niệm tranh chấp lao động Trong nên kinh tế thi trường hiện nay, (QHLD) được thiết lập bằng hình thức (HĐLĐ) theo nguyên tắc tự do - tự nguyên và sự bình đẳng giữa người lao đông va người sử dụng lao động.
Thực chất , đây vốn dĩ là quan hệ hop tác đôi bên cùng có lợi dua trên cơ sở hiểu biết và quan tâm lẫn nhau để cũng dat được lợi ích ma mỗi bên mong muôn va đã đất ra. Tuy nhiên vì mục tiêu đạt được lợi ích tôi đa mà giữa họ không dung hoa được quyền lợi trong suốt quá trình thực hiện QHLĐ. (NLD) luôn có nhủ cầu tăng lương, giảm giờ lâm và được làm việc trong điều kiện lao động ngày cảng tốt hơn,ngược lại (NSDLB) lại luôn có zu hướng tăng cường độ, thời gian làm việc của NLĐ và giảm tối da chỉ phí nhân công đạt được lợi nhuận cao hơn. Những mong muốn lợi ích ngược chiều nảy đã trở thành những bat đồng va phát sinh (TCLD) giữa ho TCLD hay nói khác di 1a những mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi giữa NSDLĐ và NLD là điều không ai muốn, nhưng trong nhiễu trường hợp tại nhiều doanh nghiệp lại là một thực tế không thể né tránh va cần được giải quyết một cách hai hòa, đúng quy định của pháp luật TCLD lả một cum từ ghép,trong đó,"tranh chấp” hiểu theo Từ điển Hán Việt là: giành, giữ lấy về phần mảnh), cin theo Tử điển Tiếng Viet (1992), “tranh chấp" là sự tranh đầu, giẳng co khi có ý kiến bắt đồng, thường, Ì Nguyễn Lân, (2006), Từ didn Từ và Ngữ Hán — Việt, Noto Tổng hop Thành phố Hỗ Chi Minh HS ChiMinh 69.
1a trong van để quyển lợi giữa hai bên”. TCLĐ 1a một trong những cụm từ. được sử dụng ở nước ta trong khoảng gin ba mươi năm trở lại đây. Trước nam 1985, khi nên kinh tế của đất nước xây dựng theo hướng kế hoạch hóa tập trung nên các QHLĐ trong thời gian nay cũng mang tính chất bao cấp tình quân đản đều nên phan lớn các tranh chấp đều mang tính chất hảnh.
chính, được giãi quyết theo thủ tục hảnh chính nên khái niệm TCLĐ hẳu như. không được nhắc đến. Bởi lế trong thời kỉ này, NLB chính lả “công nhân - viên chức nhà nước” sức lao đồng không được coi như hàng hóa, NLD “được tuyển dung” vào biên chế nha nước va ho phai thực hiện những nhiệm vụ do cơ quan, xí nghiệp nhà nước giao cho. Nêu không đẳng tình hoặc cẩn đưa ra vấn để gì liên quan đến quyển lợi của cả nhân ra yêu câu giải quyết, NLĐ được sử dung quyển “khiêu nai-té cáo”.
Kể từ tháng 10/1985, nhân thức về lao đông va TCLĐ được thay đổi, lan đầu tiên khái niêm "TCLĐ” được chính thức để cập tại Thông tư liên ngành số 02/TT-LN của Tòa án nhân dan tôi cao, Viện kiểm sát nhân dân tôi cao, Bộ tư pháp,Bộ lao động Tổng cục dạy nghề về việc hướng dẫn thực hiện thấm quyền xét xử của tòa án nhân dân vé việc hướng dẫn thực hiện thẩm. quyển xét xử của tòa án nhân dan vé một số việc tranh chấp trong lao động”. Tuy vậy, tai Thông tư này khái niệm " tranh chấp lao động" không được xác định về nội ham ma chỉ 1a một cụm từ có tính chất thông báo ma không định. hình được TCLĐ là gì, tranh chấp giữa ai với ai va về van để gì.
Tiếp đó TCLĐ ca nhân và tranh TCLĐ tập thể đã được nha nước ta để cập đến lần lượt tại các văn kiện pháp luật như "pháp lệnh HĐLĐ” ngày 30/8/1990 của 1 Hội đồng Nhà nước và Nghị đính 18/CP ngày 26/12/1902 ban hảnh các quy định về lao động tập thé. Tuy nhiên, khái miệm “TCLĐ” vẫn chưa rổ rang. Phải đến khi (BLLĐ) năm 1904 ra đời thi khái niêm "TCLĐ” mới được định. nghĩa chính thức tại Biéu 157.
Theo đó, TCLĐ được hiểu là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương tìm nhập và các điều kện iao động khác, về thực liện HĐLĐ thỏa tước tập thé và trong quá: trình học nghề ( Khoản 1 Điều 157). Tuy nhiên, quy định nay cũng mới chỉ khái quát và liệt kê được những tranh chấp cụ thể phát sinh trong qua trình lao đông va học nghề, và chỉ đưa ra giải thích vé nội hàm của TCLĐ ma chưa thực sự chỉ ra được ban chất của TCLĐ là gì. Bởi lế TCLĐ không chỉ là tranh. chap về lao đông hay lam việc tức là xung đột về hảnh vi liên quan đến hoạt đông của NLD ma TCLĐ còn là loại tranh chấp vé các vấn để liên quan đến quá trình lao động, tức quả trình sác lập duy tì hay chấm đứt mối QHLD giữa các bên Không chi có vay, TCLĐ còn bao gồm cả các zung đốt liên quan đến việc làm, học nghề, quan hệ đại điển lao đông .hay gọi chung là các vấn để liên quan đến quyển và lợi ích của các bên (gảm NLD va NSDLB).
Như vậy, có thể hiểu TCLĐ lả một khai niệm khá rộng khá bao trùm bởi lế quyển và nghĩa vu của các bên trong QHLĐ la những yêu tổ hết sức phức tap vi vay, để dap ứng được yêu câu của xã hội, dé giải quyết triệt lễ được các TCLD, BLLD năm 2012 đã được ban hành và đã đưa ra khải niệm rõ rang, cụ. thể va có tâm bao quát về TCLĐ: “TCLD ia tranh chấp về quyén nghia vụ và lot ich phát sinh giữa các bên trong QHLB. TCLĐ bao gằm TCLĐ cá nhân giữa người lao đông với người sử ding lao đồng và TCLD tập thé giữa tập THỂ lao động với người sử đụng lao động "(khoăn 7 Điều 3) TCLĐ có đấu hiệu như sau Thứ nhất một TCLD phải được biểu hiện ra bên ngoài qua các hinh thức nhất định. Sự xung đột giữa các chủ thé bao giờ cũng bat nguồn từ những mâu thuẫn, bat dong vẻ quyền lợi ích và suất phát tir suy nghĩ, tư duy của những con người cụ thể.
Tuy nhiên các mâu thuẫn đó bao giờ cũng bắt nguồn từ tư duy suy nghĩ của con người. Những suy nghĩ nay có thé được tiểu hiện qua bên ngoai va phát triển thành TCLĐ nhưng nó cũng có thé không được biểu hiện ra bên ngodi. Người ta gọi nó là *TCLĐ tiém năng” Môt TCLĐ tiém năng trong những điều kiện nhất định sẽ bùng phát thành. TCLĐ thực sự nhưng nếu không có điều kiên thích hợp ít nhất là từ chinh quyết tâm của chủ thể tranh chấp thì tranh chấp do sẽ mãi mãi chỉ ở dang làm năng” ma thôi.
Vi vậy, dầu hiệu đâu tiến của TCLĐ là TCLĐ đó phải được biểu hiện ra bên ngoài. Pháp luật không có quy đính cụ thể nào vẻ việc TCLĐ nao phải có hình thức thể hiên như thé nào. Tuy vay trên phương diện chứng cứ TCLĐ phải có tiểu hiện và sự biểu hiện đó cân được “lưu trữ” trong không gian, thời gan. ‘ma người bình thường có thể nắm bắt và nhận biết được.
Bởi vậy, nó can sự hỗ tro của các phương tiện ghi nhân nhất định ma các “don khiểu nai”, văn. ân "yêu cầu giải quyết TCLĐ” là những hình thức phổ biển ghi nhận sự tổn. tại của một TCLĐ 1. Đặc diém của tranh chấp lao động.
TCLD 1a những tranh chấp vẻ quyền, nghĩa vụ vả lợi ích phát sinh giữa các bên trong QHLĐ nên có những đặc êm sau: Thứ nhất, TCLD phat sinh, tên tại gắn lién với QHLĐ va quan hệ tiên lao động, TCLD phát sinh và tôn tại gắn liên với QHLĐ và quan hệ tiến lao động, Mỗi quan hệ nảy được thé hiện ở hai điểm cơ ban sau: - Các biên tranh chấp bao giờ cũng 1a chủ thé của QHLĐ và đối tượng tranh chấp chính là nội dung của QHLD đó. - Trong quả trình thực hiến QHLĐ, có rét nhiễu lý do dé các bên trong QHLĐ không thực hiện đúng và đây di các quyển và nghĩa vụ đã được thống nhất ban đầu Thứ hai, TCU xây ra không nhất thiết phi có hành vi vì pham pháp luật Trên thực tế thì không phải chỉ có hảnh vi vì phạm pháp luật mới dẫn. Ma đôi khi TCLD lại xuất phát từ nhu câu cả nhân đơn phương, Vi du: NLD của đoanh nghiệp A làm công việc và thời gian tương đương như ‘NLD của doanh nghiệp B nhưng NLĐ của doanh nghiệp A lại được nhân mức lương thấp hơn lương của NLĐ doanh nghiệp B (mức lương cơ bản và phụ cấp lao đông của doanh nghiệp A vẫn tuân thủ đúng pháp luật lao động). Vi vay NLD của doanh nghiệp A đã có yêu cầu đòi NSDLĐ phải tăng lương bằng với mức lương của NLD doanh nghiệp B nhưng NSDLĐ không đồng ý và hai bên đã xây ra tranh chấp Thứ ba, về chủ thể TCLĐ.
Hệ thông chủ thé của TCLĐ bao gồm: NLD, NSDLD, tập thé lao động, đại điện của NLB (Công đoàn) và NSDLĐ. Quan niệm về chủ thể TCLD gồm cã đại diện của các bên thực ra chưa. được công nhận chính thức và phd biến ỡ Việt Nam. Theo quan niệm thông thưởng, TCLĐ xây ra giữa hai bên của QHLD còn việc tham gia của đại diện.
các bên chỉ có ý nghĩa đại diện chit không có ý nghĩa là chủ thể tranh chấp Trong thực tiễn có thể xây ra tranh chấp tại một doanh nghiệp giữa Công đoàn - đại điện của người lao đông va chủ doanh nghiệp đó, Vấn để tranh chấp ở đây có thé là việc ki kết các thỏa ước lao đồng tập thể hay việc dim bão các điều kiện để công đoàn có thể hoạt đồng. Trong tranh chấp thứ nhất (việc kí kết các théa ước lao đồng tập th), pháp Luật quy định Công doan một mất là đại điện của NLD nhưng mắt khác Công đoản cũng có tư cách độc lập của một t8 chức xã hội. Và Công đoàn có thé lựa chọn một trong hai tư 10 cách nay dé yêu cầu NSDLĐ thương lượng và đi đến kí kết thia ước lao động tập thể. Tuy nhiên, khi Công đoàntrực tiếp thương lượng với NSDLD về van dé kí kết thỏa ước lao đông tập thé thì công doan bat buộc phải lẫy tư cách la đại diện của tập thể NLD.
Chính vi thé ma chủ thể của TCLĐ có thé bảo gồm đại diện của NLD.