CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. Khái quát tranh chấp và hòa giải trong tranh chấp hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm tranh chấp, hòa giải và hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng Khái niệm tranh chấp: Tòa Công lý Quốc tế tiền thân là Tòa Thường trực Công lý Quốc tế1 trong án lệ của mình đã đưa ra định nghĩa về tranh chấp như sau “Một tranh chấp là một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên”. Đây là một định nghĩa rộng đủ bao quát mọi bất đồng giữa các quốc gia và định nghĩa này cho đến nay vẫn được sử dụng và có thể nói đã trở thành một trong những ý kiến pháp lý nổi tiếng nhất của Tòa Công lý Quốc tế2.
Trong từ điển tiếng Việt tranh chấp được hiểu là “Tranh giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” hoặc “Đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi của hai bên”3. Có thể thấy khái niệm tranh chấp là rất rộng, bao gồm nhiều loại tranh chấp khác nhau như tranh chấp về chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh doanh, thương mại… Do vậy, có thể đưa ra khái niệm chung về tranh chấp đó là “Tranh chấp là có sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi dẫn đến việc tranh giành giữa các bên”. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng: 1 Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) là một phân ban trực thuộc Liên Hợp Quốc, được thành lập năm 1945với tiền thân là Toà án Thường trực Công lý Quốc tế (Permanent Court of International Justice) có từ năm 1922. Tòa bắt đầu chính thức nhận hồ sơ, thụ lý và giải quyết tranh chấp các vấn đề giữa các quốc gia thành viên có liên quan, cũng như làm công tác cố vấn pháp luật cho Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, cũng như các ủy ban khác trực thuộc Liên Hợp Quốc như đã ghi rõ trong Hiến chương Liên Hợp Quốc từ 1946.
2 https://iuscogens-vie.org/category/phan-quyet-moi/ 3 http://tratu.vn/dict/vn_vn/Tranh_ch%E1%BA%A5p 7 Hợp đồng tín dụng (viết tắt là HĐTD) là nơi ghi nhận những thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên, là hình thức pháp lý khi tổ chức tín dụng (viết tắt là TCTD) thực hiện nghiệp vụ cho vay. Do vậy, trong quá trình hợp đồng được diễn ra các bên phải có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện đúng những điều khoản đã giao kết. Tuy nhiên, trong thực tiễn việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ được thỏa thuận tại HĐTD là điều không thể tránh khỏi vì quyền và nghĩa vụ của mỗi bên luôn gắn kết, đan xen với nhau. Những mâu thuẫn, bất đồng này dẫn đến tranh chấp thì được gọi là tranh chấp hợp đồng tín dụng (sau đây gọi tắt là TCHĐTD).
Do vậy, có thể khái niệm TCHĐTD như sau: Là những tranh chấp phát sinh từ mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ giữa TCTD với các bên trong quá trình thực hiện các điều khoản đã giao kết trong HĐTD. Các dạng TCHĐTD phổ biến nhất hiện nay là tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vốn, tiền lãi của bên vay cho TCTD; Tranh chấp về các loại lãi suất, phí, tiền phạt; Tranh chấp về xử lý tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong HĐTD. Đồng thời, cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội số lượng các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngày càng tăng và phức tạp. TCHĐTD được chia làm hai loại: Tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Trong đó, TCHĐTD là tranh chấp kinh doanh, thương mại trong trường hợp phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức đều có đăng ký kinh doanh và HĐTD đó hướng tới mục đích lợi nhuận. Với loại tranh chấp này, Tòa án có thẩm quyền sẽ thụ lý, giải quyết như một vụ án kinh doanh, thương mại4. TCHĐTD là tranh chấp dân sự trong trường hợp HĐTD được ký kết giữa TCTD với hộ gia đình, cá nhân nhằm mục đích cho vay tiêu dùng đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng, không nhằm mục đích sinh lợi. Đối với những tranh chấp này Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ án dân sự5.
Xuất phát từ sự khác nhau giữa hợp đồng tín dụng trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại với hợp đồng tín dụng trong vụ án 4 Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 quy định: “Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: 1.Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. 5 Điều 26 BLTTDS năm 2015 8 dân sự về nội dung, hình thức và chủ thể tham gia giao kết hợp đồng nên khi áp dụng thủ tục hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS) năm 2015 đối với những vụ án này cũng có sự khác nhau. Khái niệm hòa giải: Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội thì hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa6. Pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa về hòa giải nhưng theo một số nhà nghiên cứu thì hòa giải là một quá trình có giá trị xã hội cao để điều chỉnh quan hệ giữa các bên có tranh chấp.
Hòa giải là phương pháp để tăng cường sự hòa hợp lẫn nhau chứ không làm tăng lên sự căng thẳng, đối đầu giữa các bên7. Hay hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội8. Thông qua việc tìm hiểu một số quan điểm về hòa giải có thể đưa ra khái niệm về hòa giải như sau: Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam chính là việc Thẩm phán nhân danh Nhà nước tự mình phối hợp với tổ chức, cá nhân khác giúp đỡ các bên tranh chấp thỏa thuận giải quyết tranh chấp một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Với việc hiểu rõ thế nào là hòa giải trong tố tụng dân sự sẽ là cơ sở vững chắc để Thẩm phán, Thư ký tiến hành tố tụng đạt hiệu quả cao.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hòa giải gồm có các loại hình chính đó là hòa giải ngoài Tòa án, hòa giải tại Tòa án và hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài. Hòa giải ngoài Tòa án bao gồm hai trường hợp đó là hòa giải tiền tố tụng và hòa giải cơ sở. Trong đó hòa giải tiền tố tụng được hiểu là trong trường hợp mà pháp luật có quy định thì các chủ thể trong mối quan hệ tranh chấp phải hòa giải thông qua cơ quan hòa giải, sau khi có kết quả hòa giải dù là hòa giải không thành 6 Từ điển tiếng Việt (1995), NXB Khoa học Xã hội 7 Đặng Hoàng Oanh (2009), pháp luật và thực tiễn của Australia về hòa giải – một số kiến nghị áp dụng cho Việt Nam, Hà Nội. Dương Quỳnh Hoa, 2015, cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia.
9 thì các chủ thể mới được tiếp tục gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) có thẩm quyền. Có thể nói hòa giải tiền tố tụng là thủ tục bắt buộc, là một trong những điều kiện thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Pháp luật hiện hành quy định các trường hợp hòa giải tiền tố tụng đó là hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã/ phường/ thị trấn9 và hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể về quyền10. Đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở là việc các tổ hòa giải được thành lập ở cơ sở là thôn, tổ dân phố theo hình thức tự quản11 nhằm giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trên cơ sở hướng dẫn, giúp đỡ, khuyến khích, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng giúp giữ gìn tình làng, nghĩa xóm; giúp giảm bớt vụ việc phải đưa lên Tòa án nhân dân giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho đương sự.
Hòa giải tại Tòa án gồm có hòa giải thông qua Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án và hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự. Hòa giải qua Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án do Hòa giải viên thực hiện và có quyền hòa giải tất cả các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, việc thuận tình ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, khác với hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự thì việc hòa giải này được thực hiện sau khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhưng chưa được thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự12. Đồng thời, hòa giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại sẽ được thực hiện theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
Đối với hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự Tòa án là thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án dân sự theo nghĩa rộng, việc hòa giải vụ án là công khai, theo trình tự, thủ tục chặt chẽ của BLTTDS năm 2015. 9 Điều 202 Luật đất đai năm 2013. 10 Khoản 1 Điều 188 và khoản 2 Điều 191 Bộ luật lao động năm 2019. 11 Điều 2 Luật hòa giải cơ sở năm 2013.
12 Khoản 2 Điều 1 Luật hòa giải, đối thoại năm 2020. 10 Đối với hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài thì các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp, bao gồm các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết bằng trọng tài do các bên thỏa thuận. Về nguyên tắc, khi các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý13.