Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 1. Khái niệm, đặc điểm hòa giải ở cơ sở, phân biệt hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khác 1. Khái niệm, đặc điểm hoà giải Trong khoa học có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải, theo Hiệp hội Hoa kỳ: “Hòa giải là một quá trình, trong đó bên thứ 3 giúp 2 bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ” [25, tr.3]; Từ điển Luật học Black định nghĩa: Hòa giải (conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp (GQTC) giữa họ. Việc GQTC thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập) [65, tr.
Như vậy với quan niệm nay vai trò chủ yếu của người hòa giải không tham gia vào quá trình hoặc việc thỏa thuận các giải pháp hòa giải mà chủ yếu đóng vai trò là người trung gian cho hai bên tranh chấp tự nguyện ngồi lại với nhau, tạo điều kiện cho họ duy trì đối thoại và thương lượng giải quyết mâu thuẫn, bất đồng. Theo từ điển Tiếng Việt “hoà giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thoả” [64, tr.30]; Theo từ điển Luật học , Nxb Từ điể n Bách khoa & Nxb Tư pháp “Hoà giải: Thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thoả. Thông thƣờng, việc hoà giải đƣợc tiến hành sau khi thƣơng lƣợng (khiếu nại) giữa các bên đã không đạt đƣợc kết quả” [63, tr.365] 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, có thể hiểu hoà giải là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba, các bên tranh chấp tự nguyện thoả thuận giải quyết các xung đột, tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Với quan niệm như vậy, hòa giải có một số đặc điểm sau đây: Một là, hòa giải là một một phương thức giải quyết mẫu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật.
Hai là, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về mẫu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với thương lượng. Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Người này phải có vị trí độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp.
Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán quyết. Ba là, sự điều chỉnh, thỏa thuận về giải quyết các tranh chấp phải do chính các bên tranh chấp quyết định. Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên. Khái niệm, đặc điểm hoà giải ở cơ sở 1.
Khái niệm hoà giải ở cơ sở Hiện nay Pháp luật một quốc gia rất đề cao hòa giải ở cơ sở, nhưng tên gọi của các tổ chức đó được sử dụng rất khác nhau: Cộng hòa nhân dân Trung hoa gọi với tên là “Hòa giải nhân dân” theo đó “hòa giải nhân dân là quá trình một Ủy ban nhân dân thuyết phục các bên liên quan đến một mâu thuẫn đạt đƣợc một thỏa thuận hòa giải trên cơ sở thƣơng lƣợng bình đẳng và tự do ý chí và mang lại một kết quả là giải quyết mâu thuẫn giữa các bên” [59, tr. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sigapore lại gọi là hòa giải cộng đồng, theo đó: Hòa giải bao gồm việc thực hiện bất cứ hành động nào nhằm xúc tiến việc trao đổi và giải quyết tranh chấp; tập hợp các bên tranh chấp lại với nhau vì mục đích nêu trên, theo yêu cầu của một bên tranh chấp hoặc do Giám đốc chủ động tiến hành và tiếp tục giải quyết các vấn đề trọng tâm của việc trao đổi và giải quyết đó [32, tr. Tại Việt Nam nhằm đề cao hoạt động nơi cơ sở, nơi cộng đồng dân cư, làng xóm với lối sống tình làng nghĩa xóm nên gọi với tên là hòa giải ở cơ sở. Hoạt động hòa giải ở Việt nam xuất phát từ thực trạng tại cơ sở, hiện nay yêu cầu tự quản trong nhân dân được đặt lên hàng đầu nên hoạt động hòa giải ở cơ sở không tổ chức theo mô hình có quá trình tham gia của Ủy ban nhân nhân hoặc thông qua Trung tâm hòa giải như ở một số nước ở trên.
Tại khoản 1, Điều 2, Luật Hòa giải ở cơ sở của nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam quy định hòa giải ở cơ sở “là việc hòa giải viên hƣớng dẫn, giúp đỡ các bên đạt đƣợc thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật” [44]. Đặc điểm hoà giải ở cơ sở Hoạt động hòa giải ở cơ sở qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật tại cơ sở trong thời gian qua có thể thấy hòa giải ở cơ sở có một số đặc điểm sau: - Về bản chất của quá trình hòa giải: Hòa giải cơ sở là việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật giữa các bên về quyền và lợi ích. Trong hoạt động hoà giải, các bên tranh chấp cần đến một bên thứ ba (sau đây gọi là Hoà giải viên) làm trung gian, giúp họ đạt được một thỏa thuận, giải quyết được những bất đồng. Trong quá trình hoà giải, Hoà giải viên có vai trò trung lập, khách quan, vận dụng pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân ta, để giải thích, hướng dẫn, giúp đỡ và thuyết phục 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các bên tranh chấp tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ, xoá bỏ mâu thuẫn, bất đồng và đạt được thoả thuận phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, nhằm giữ gìn sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, góp phần phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.
Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên. - Về chủ thể thực hiện hòa giải ở cơ sở: là hoà giải viên tại các tổ hoà giải. Tổ hoà giải hiện nay không phải là một tổ chức chính quyền mà là một tổ chức quần chúng của nhân dân, do nhân dân cử ra và được thành lập theo đơn vị dân cư ở cơ sở: xóm, thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư. Việc hoà giải, giải quyết những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân do hoà giải viên các tổ hoà giải thực hiện.
Và hòa giải viên (hoặc cũng có thể là một cá nhân có uy tín, có sức thuyết phục, cảm hóa các bên tranh chấp) trực tiếp tham gia trong quan hệ hòa giải, nhưng có vai trò trung lập và độc lập với các bên tranh chấp. Hoà giải viên chỉ có quyền giải thích, thuyết phục, cảm hóa hai bên tranh chấp thỏa thuận, tự nguyện chấm dứt tranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột mà không được áp đặt hoặc cam thiệp vào nội dung thỏa thuận của các bên. - Nội dung thỏa thuận của các bên tranh chấp bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; Dù cho thỏa thuận đó thể hiện ý chí tự nguyện của các bên tranh chấp, nhưng nội dung của thỏa thuận đó không phù hợp với quy định của pháp luật, trái đạo đức xã hội, thì sẽ không được công nhận. - Về chủ thể của quan hệ hoà giải ở cơ sở: Hòa giải trước hết là sự thỏa thuận, thể hiện ý chí và quyền định đoạt của chính các bên tranh chấp.
Hay nói cách khác, chủ thể của quan hệ hòa giải chính là các bên tranh chấp vi họ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính là chủ thể của các tranh chấp, các mâu thuẫn, nên họ có toàn quyền định đoạt để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp đó, chứ không phải là ai khác. Đây có thể nói là một trong những đặc điểm nổi trội của hoạt động hòa giải ở cơ sở, đặc biệt đề cao quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp trong việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật. - Về nguyên tắc hoà giải ở cơ sở: Điều 4, Luật Hòa giải ở cơ sở đã đưa ra 6 nguyên tắc cơ bản trong hoà giải, trong đó một trong những nguyên tắc nền tảng, quan trọng nhất trong hoạt động hòa giải là “tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở” [44]. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền tự nguyện tham gia, tự nguyện quyết định và tự nguyện chấm dứt các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên.
Do đó, việc hòa giải phải thật sự tôn trọng sự tự nguyện của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân, người thực hiện hòa giải không được can thiệp vào nội dung thỏa thuận của các bên. - Về phương pháp hòa giải hoà giải ở cơ sở: Trên cơ sở pháp luật, đạo đức xã hội và bằng uy tín của mình, Hòa giải viên giải thích, thuyết phục, giáo dục, cảm hoá, động viên các bên tranh chấp tự hoà giải, đi đến thoả thuận giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn và những bất đồng với phương châm kiên trì và bền bỉ không có giới hạn. - Về mục đích của hoà giải ở cơ sở là hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp ngay từ ban đầu nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; xây dựng tình làng, nghĩa xóm, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.