Hồ Chí Minh với Sự Nghiệp Giáo Dục Kháng Chiến Kiến Quốc (1945-1954)

Khám phá luận văn thạc sĩ về sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc tại Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1954, góp phần vào lịch sử Việt Nam.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Khoa Học

2007

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Hồ Chí Minh và Giáo Dục Kháng Chiến 1945 1954

Giai đoạn 1945-1954 là thời kỳ bản lề, chứng kiến sự hình thành và phát triển của nền giáo dục Việt Nam mới dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã nhận thức sâu sắc vai trò then chốt của giáo dục trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nền giáo dục mới này không chỉ hướng đến việc nâng cao dân trí, xóa bỏ tàn dư của chế độ thực dân, mà còn phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp kháng chiến chống Pháp. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục được thể hiện rõ nét qua các chủ trương, chính sách nhằm xây dựng một nền giáo dục quốc dân, dân chủ, khoa học và thiết thực, gắn liền với thực tiễn chiến đấu và sản xuất. Chính sách này đã tạo nên một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực giáo dục, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Nền Giáo Dục Trước 1945

Trước năm 1945, nền giáo dục Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp mang đậm tính chất nô dịch, kìm hãm sự phát triển của dân tộc. Chính sách ngu dân được thực hiện triệt để thông qua việc hạn chế mở trường lớp, nhồi nhét tư tưởng phản động, khiến phần lớn dân chúng mù chữ. “Nạn mù chữ và thất học trầm trọng khắp trong nước: 95% dân chúng không biết đọc, biết viết, số học sinh tiểu học chỉ bằng 0,80% dân số, số học sinh trung học chưa đầy 0,30% dân số”. Tình trạng này đặt ra một thách thức lớn cho chính quyền cách mạng non trẻ sau năm 1945: phải xây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới, khai sáng dân trí, tạo nguồn lực cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc.

1.2. Vai Trò Của Giáo Dục Trong Sự Nghiệp Giải Phóng Dân Tộc

Hồ Chí Minh luôn coi giáo dục là một công cụ quan trọng để giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ. Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Nền giáo dục mới phải góp phần nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đồng thời, giáo dục phải đào tạo ra những cán bộ, chiến sĩ có đủ phẩm chất và năng lực để phục vụ sự nghiệp kháng chiến và xây dựng đất nước. Sự nghiệp giáo dục được coi như một phần không thể tách rời khỏi cuộc đấu tranh giành độc lập.

II. Chính Sách Giáo Dục Của Hồ Chí Minh Cách Mạng 1945 1954

Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ, khoa học và đại chúng. Mục tiêu hàng đầu là xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí cho toàn dân. Phong trào bình dân học vụ được triển khai rộng khắp, thu hút đông đảo người dân tham gia học tập. Chương trình và nội dung giáo dục được cải cách theo hướng thiết thực, gắn liền với đời sống và sản xuất. Giáo dục được xem là một bộ phận quan trọng của cuộc kháng chiến, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước.

2.1. Phong Trào Bình Dân Học Vụ Xóa Nạn Mù Chữ Toàn Dân

Phong trào Bình dân học vụ là một trong những chủ trương quan trọng nhất của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực giáo dục sau năm 1945. Phong trào này nhằm mục tiêu xóa nạn mù chữ cho toàn dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hàng triệu người dân đã tham gia học tập, góp phần nâng cao dân trí và tạo điều kiện cho việc tiếp thu kiến thức khoa học, kỹ thuật phục vụ sản xuất và chiến đấu. "Đồng bào bây giờ phải biết chữ hết để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh" [38,60]. Phong trào không chỉ đơn thuần là dạy chữ mà còn truyền bá những kiến thức về chính trị, xã hội, giúp người dân hiểu rõ hơn về tình hình đất nước và thế giới.

2.2. Cải Cách Chương Trình Giáo Dục Quốc Dân Gắn Liền Thực Tiễn

Chương trình và nội dung giáo dục được cải cách mạnh mẽ theo hướng thiết thực, gắn liền với đời sống và sản xuất. Các môn học được biên soạn lại, chú trọng đến kiến thức thực tế, kỹ năng thực hành. Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà còn bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm công dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “trước học một đường, hành một nẻo. Nay phải sửa chương trình làm sao để học thì hành được ngay”. Mục tiêu là đào tạo ra những người vừa có kiến thức, vừa có kỹ năng, có thể đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

III. Giáo Dục Thời Chiến Hướng Dẫn Vượt Qua Thách Thức 1946 1954

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954), nền giáo dục Việt Nam đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức. Trường học bị tàn phá, giáo viên và học sinh phải di chuyển liên tục để tránh bom đạn. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chí Minh và Đảng, ngành giáo dục vẫn kiên trì bám trụ, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Giáo dục được tổ chức theo phương châm “vừa học, vừa làm”, “học ở trường, học ở ngoài trường”, gắn liền với thực tiễn chiến đấu và sản xuất. Việc đào tạo cán bộ được đặc biệt chú trọng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.

3.1. Phương Pháp Giáo Dục Thởi Chiến Vừa Học Vừa Làm

Phương pháp giáo dục trong thời kỳ kháng chiến được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Phương châm “vừa học, vừa làm” được quán triệt sâu sắc, giúp học sinh vừa có kiến thức, vừa có kỹ năng lao động sản xuất. Các hoạt động ngoại khóa, văn nghệ, thể thao được tổ chức thường xuyên, tạo không khí vui tươi, lành mạnh, giúp học sinh giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi. Việc kết hợp giữa học tập và lao động sản xuất không chỉ giúp học sinh rèn luyện sức khỏe, kỹ năng mà còn góp phần vào việc tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống.

3.2. Ưu Tiên Đào Tạo Cán Bộ Phục Vụ Kháng Chiến Kiến Quốc

Trong giai đoạn kháng chiến, việc đào tạo cán bộ được đặc biệt chú trọng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc chiến tranh. Các trường học, lớp học được mở ra ở khắp các vùng tự do, đào tạo cán bộ quân sự, cán bộ chính trị, cán bộ kinh tế, văn hóa, xã hội. Nội dung đào tạo được tập trung vào những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công tác chỉ huy, lãnh đạo, quản lý. Hồ Chí Minh thường xuyên đến thăm hỏi, động viên giáo viên và học sinh, căn dặn phải ra sức học tập, rèn luyện để trở thành những người cán bộ tốt, phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến thiết đất nước.

IV. Thành Tựu Giáo Dục Kháng Chiến Kết Quả Vượt Mong Đợi

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc chiến tranh. Số lượng người biết chữ tăng lên đáng kể, trình độ dân trí được nâng cao. Nhiều cán bộ, chiến sĩ được đào tạo bài bản, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến. Nền giáo dục mới đã góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước sau này.

4.1. Nâng Cao Dân Trí Xóa Bỏ Nạn Dốt Khai Sáng Dân Tộc

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của nền giáo dục trong giai đoạn kháng chiến là đã góp phần nâng cao dân trí, xóa bỏ nạn dốt, khai sáng dân tộc. Số lượng người biết chữ tăng lên đáng kể, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Người dân được tiếp cận với những kiến thức khoa học, kỹ thuật, giúp họ nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống. Việc nâng cao dân trí còn góp phần vào việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù.

4.2. Đào Tạo Cán Bộ Cung Cấp Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao

Nền giáo dục trong giai đoạn kháng chiến đã đào tạo ra một đội ngũ cán bộ đông đảo, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh. Các cán bộ này đã đóng góp quan trọng vào việc lãnh đạo, chỉ huy quân đội, tổ chức sản xuất, xây dựng chính quyền cách mạng. Nhiều người trong số họ sau này trở thành những nhà lãnh đạo tài ba, những nhà khoa học xuất sắc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục thực sự trở thành một công cụ hữu hiệu để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

V. Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giáo Dục Bài Học Giá Trị

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là một di sản vô giá, có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục của Việt Nam hiện nay. Tư tưởng đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Bác Hồ đối với con người, với sự phát triển của dân tộc. Những bài học về xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ, khoa học, gắn liền với thực tiễn vẫn còn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của từng giai đoạn lịch sử.

5.1. Giáo Dục Vì Con Người Phát Triển Toàn Diện Nhân Cách

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, coi giáo dục là phương tiện để phát triển toàn diện nhân cách. Người nhấn mạnh rằng giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất, năng lực cho học sinh. Tư tưởng này đòi hỏi nền giáo dục phải tạo điều kiện cho mọi người được học tập, phát triển, không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội. Phải chú trọng đến việc giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc.

5.2. Giáo Dục Gắn Với Thực Tiễn Học Đi Đôi Với Hành

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải gắn giáo dục với thực tiễn, học đi đôi với hành. Người cho rằng kiến thức phải được vận dụng vào đời sống, sản xuất, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng này đòi hỏi nền giáo dục phải đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường thực hành, tạo điều kiện cho học sinh được tiếp xúc với thực tế, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề cụ thể. Phải kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa học ở trường và học ở ngoài trường, giữa học tập và lao động sản xuất.

VI. Sự Nghiệp Giáo Dục Kháng Chiến Giá Trị Lịch Sử Vĩnh Cửu

Sự nghiệp giáo dục kháng chiến (1945-1954) là một trang sử vẻ vang của nền giáo dục Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước sau này. Những bài học kinh nghiệm từ sự nghiệp giáo dục này vẫn còn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hiện nay.

6.1. Bài Học Về Tinh Thần Vượt Khó Khắc Phục Mọi Rào Cản

Sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn kháng chiến đã để lại bài học sâu sắc về tinh thần vượt khó, khắc phục mọi rào cản. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng ngành giáo dục vẫn kiên trì bám trụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tinh thần này cần được phát huy trong giai đoạn hiện nay, khi nền giáo dục Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức mới, đòi hỏi sự nỗ lực, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn để đạt được những mục tiêu đề ra.

6.2. Giá Trị Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Bền Vững

Sự nghiệp giáo dục kháng chiến đã chứng minh giá trị to lớn của giáo dục đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Giáo dục không chỉ góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực mà còn bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, vai trò của giáo dục càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Cần tiếp tục đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ hồ chí minh với sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc 1945 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho cuộc cải cách giáo dục tiếp theo bằng việc ban hành Nghị định “Học chính tổng quy” (gồm 7 chương với 538 điều). Bộ tổng quy về học chính này can thiệp sâu hơn vào hoạt động giáo dục, thâu tóm quyền lực và biểu đạt ý chí nô dịch giáo dục của thực dân Pháp: xoá bỏ nền giáo dục phong kiến, xác lập mô hình giáo dục phổ thông và thực nghiệp ở Việt Nam do thực dân quản lý. Chúng lập ra trường Pháp để dạy học sinh người Pháp theo chương trình của “Chính quốc”, lập ra trường Pháp - Việt dạy cho học sinh người Việt theo chương trình dành cho “bản xứ ”. Năm 1919, nhà cầm quyền Pháp ra lệnh bãi bỏ thi hương, thi hội và cấm các trường tư hành nghề (trừ trường tư Thiên chúa giáo của các cố đạo phương Tây).

Chúng cho một số xã đông dân được mở trường sơ học với một vài lớp đầu cấp, một số huyện lỵ, thị trấn, thị xã được mở trường tiểu học 6 năm, một số thành phố lớn mở trường cao đẳng tiểu học 4 năm (như (LUAN.1954 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1954 phổ thông cơ sở ngày nay), Hà Nội, Huế, Sài gòn mỗi thành phố được mở một trường cao trung (như trường trung học phổ thông ngày nay). Việc quy định mở trường như vậy là rất độc đoán, ngặt nghèo. Năm 1923, Toàn quyền Đông Dương Méclanh lại thực hiện một cuộc cải cách giáo dục nữa. Cuộc cải cách này thắt chặt hơn, bộc lộ đầu óc thực dân thâm hiểm hơn về chính sách giáo dục.

Chúng nói rằng người Việt Nam rất hạn chế về sức học, nên chỉ cần mở trường sơ học là đủ (!). Ở Bắc kỳ cho mở trường “hương học”, ở trung kỳ cho mở trường “dự bị”, ở Nam kỳ cho mở trường “phù trợ dự bị”, ở thị trấn, thị xã được mở lớp “kiêm bị”. Tất cả các hệ thống trường lớp này, về chương trình đều không quá trình độ lớp 4 hiện nay. Còn các trường cao đẳng tiểu học, trường trung học chỉ có ở những thành phố lớn, nhưng số lượng trường hết sức ít ỏi.

Ví dụ, ở thành phố Huế có trường Cao đẳng tiểu học Quốc học Huế, ở thành phố Hà Nội có trường Trung học Anbe sarô. Rõ ràng, thực dân Pháp cố tình kìm hãm giáo dục ở nước ta bằng cách hạn chế tối đa việc mở trường. Năm 1921, theo một thống kê được đưa ra công luận là ở xứ An Nam cứ trung bình 1000 làng thì có 10 trường học (trong khi đó lại có 1500 đại lý rượu và thuốc phiện cũng cho bấy nhiêu làng ấy) [34,25]. Năm 1923, nạn thiếu trường học vẫn diễn ra “một cách tệ hại”, “mỗi năm, cứ đến ngày khai trường, các bậc cha mẹ dù có đi gõ cửa khắp nơi, cầu xin mọi sự giúp đỡ, thậm chí xin nộp gấp đôi tiền ăn học mà họ vẫn không gửi được con cái đến trường.

Người ta nói rằng ngân sách không đủ cho chính phủ xây thêm trường mới. Không hẳn thế đâu.” [34,154] Năm 1939, được coi là năm đỉnh cao của sự phát triển kinh tế và xã hội ở Đông Dương, mà ở nước ta cũng chỉ có hơn 400.000 học sinh tiểu học, 3000 học sinh trung học, 582 học sinh đại học trên tổng số 23 triệu dân lúc đó [52,160]. Năm học 1941-1942, tức là vào thời điểm sau hơn 80 năm được “khai hoá” về giáo dục, theo Niên giám thống kê Đông Dương, tập 7, năm 1942, người Pháp mới đầu tư mở được 8.775 trường sơ học với 486.362 học sinh, (LUAN.1954 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1954 503 trường tiểu học với 58.629 học sinh, 16 trường cao đẳng tiểu học với 5.521 học sinh, 3 trường trung học với 652 học sinh. Năm 1942, bậc sơ học gồm cả trường công và trường tư có 535.037 học sinh, trong khi đó, bậc trung học (không có trường tư vì trường tư không được mở) chỉ có 652 học sinh.

Nghĩa là cứ 100 người đi học thì 99 người phải bỏ dở giữa chừng! Việc mở trường cao đẳng và đại học có tính chuyên nghiệp thì nhà cầm quyền lại càng tính toán và hạn chế. Đến cuối năm học 1943-1944, cả Đông Dương chỉ có 1259 sinh viên cao đẳng và đại học ở các trường Y dược, Thú y, Sư phạm, Nông lâm, Công chính, Thương mại, Khoa học, Luật khoa. Trong số 1259 sinh viên, thì sinh viên Luật khoa là 394, Cao đẳng khoa học là 175, Cao đẳng công chính 84, Nông lâm 63, Thú y 39… [14,137]. Rõ ràng người Pháp có dụng ý về mục tiêu đào tạo.

Họ cần nhiều sinh viên Luật để bổ sung vào đội ngũ công chức hành chính của bộ máy cai trị. Việc đi du học lại càng ngặt nghèo và thu hẹp. Toàn quyền Đông Dương trực tiếp phê học bạ, xét hồ sơ và quyết định từng trường hợp học sinh An Nam sang học tại Pháp. “Điều 500 (Bis) của nghị định ngày 20 tháng 6 năm 1921 về học chính ở Đông Dương nói như sau: Mọi người bản xứ, vô luận là dân thuộc địa Pháp hay dân do Pháp bảo hộ, muốn sang chính quốc tiếp tục học tập, đều phải được phép của quan toàn quyền.

Quan toàn quyền sẽ quyết định sau khi hỏi ý kiến quan thủ hiến và quan giám đốc Nha học chính. Trước khi đi, đương sự phải có một học bạ đại học do Nha học chính cấp, có dán ảnh và ghi rõ lý lịch, địa chỉ cha mẹ, những trường đã học, các học bổng hoặc trợ cấp đã được hưởng, các bằng cấp đã có và địa chỉ người bảo lãnh ở Pháp. Học bạ đó phải được quan toàn quyền phê chuẩn.1954 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1954 * Thực dân Pháp chẳng những đã hạn chế việc học hành của dân chúng bằng cách chỉ phổ cập nền giáo dục sơ đẳng “một cách quá bủn xỉn và nhỏ giọt” mà còn chú trọng đưa nội dung nhồi sọ vào chương trình và hoạt động giáo dục “làm cho u mê để thống trị”. Đó là thực trạng và bản chất của nền giáo dục ở Việt Nam thời Pháp thống trị.

Nhà cầm quyền Pháp đã cố tâm hủy bỏ Hán học vì chúng thấy Hán học có thể đưa vào Việt Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây qua Trung Quốc và Nhật Bản, Hán học đã đào tạo một lớp sỹ phu lãnh đạo phong trào chống Pháp đầy dũng khí. Do đó, chúng đẩy mạnh việc chiếm độc quyền về giáo dục, để gạt bỏ cái gì là bản lĩnh dân tộc và nhào nặn tinh thần vong bản cho người dân thuộc địa. Nhồi sọ là nội dung căn bản nhất của nền giáo dục nô lệ, của chính sách ngu dân. “Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm.

Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tùy phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược, người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình. Nó làm cho thanh niên trở nên ngu ngốc. Điều gì có thể rèn luyện được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thì người ta không dạy ở nhà trường. Vấn đề nào có liên quan đến chính trị, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi ” [34,399].

Những thủ đoạn độc ác của thực dân Pháp làm cho nhân dân ta bần cùng, khốn khổ không thể đi học được, và cố tình thu hẹp trường lớp để gạt ra hàng loạt những học sinh có năng lực học tập mà không có chỗ học đã dẫn đến một hậu quả hết sức đen tối. “Nạn mù chữ và thất học trầm trọng khắp trong nước: 95% dân chúng không biết đọc, biết viết, số học sinh tiểu học chỉ bằng 0,80% dân số, số học sinh trung học chưa đầy 0,30% dân số” (LUAN.1954 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. “Còn đối với trí thức thì tuy rằng thực dân và phong kiến cũng trực tiếp bóc lột về vật chất, song chúng dành một tí ti cái chúng bóc lột được để mua chuộc trí thức. Nhưng chúng áp bức bóc lột trí thức tàn tệ về mặt tinh thần.

Chúng đã làm cho trí thức xa rời thực tế, xa rời nhân dân. Chúng đã làm cho một số trí thức mơ màng đến nỗi quên nước mình bị nô lệ, quên tự mình là nô lệ, không phân biệt được ai là bạn, ai là thù, không phân biệt được thế nào là sai, là đúng. Đó là một thủ đoạn vô cùng thâm độc của thực dân và phong kiến” [40,146]. Tuy nhiên, nền giáo dục ở nước ta trong thời Pháp thống trị cũng làm nảy sinh những hệ quả ngoài mong muốn của kẻ thù.

Đó là sự xuất hiện một bộ phận trí thức tân học có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc, trong đó có những người rất tiên tiến, đã biết chớp thời cơ học tập, rèn luyện văn hoá, để khi có điều kiện thì đem tài năng và nhiệt tâm đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc. Họ tự nguyện tham gia các phong trào yêu nước như phong trào đòi ân xá chính trị phạm, phong trào để tang nhà ái quốc Phan Châu Trinh. Họ theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh làm cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và kiến thiết nước nhà. * * * Tóm lại, nền giáo dục ở Việt Nam dưới thời Pháp thống trị là nền giáo dục nô dịch do thực dân Pháp chủ trương và kiểm soát.

Chúng kiềm chế việc mở mang trường lớp, và nhồi sọ về nội dung giảng dạy với mục đích làm cho nhân dân ta u mê, cam chịu, mất ý thức tự chủ, giảm sút tinh thần đấu tranh tự giải phóng. Nền giáo dục nô dịch ấy đã được xoá bỏ từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và được thay bằng một nền giáo dục mới, nền giáo dục dân tộc, dân chủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và lãnh đạo, đã đem lại các giá trị tinh thần tốt đẹp, mới mẻ cho nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ ở nƣớc ta những năm 1945-1946 (LUAN.1954 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hồ Chí Minh và Sự Nghiệp Giáo Dục Kháng Chiến (1945-1954)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao nhận thức và tinh thần yêu nước của nhân dân, đồng thời khẳng định rằng giáo dục là một trong những công cụ quan trọng nhất để xây dựng một xã hội vững mạnh và độc lập.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm việc hiểu rõ hơn về những chính sách giáo dục trong giai đoạn lịch sử quan trọng, cũng như cách mà những tư tưởng của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục ở Việt Nam. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hồ chí minh với sự phát triển giáo dục phổ thông 1945 1954, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về sự phát triển giáo dục phổ thông trong cùng thời kỳ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự nghiệp giáo dục của Hồ Chí Minh và những ảnh hưởng của nó đến xã hội Việt Nam.