CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về tín dụng hộ nghèo 1. Khái niệm hộ nghèo Các quốc gia trên thế giới hiện nay rất quan tâm đến vấn nạn đói nghèo. Đói nghèo vẫn còn tồn tại ở cả quốc gia phát triển, đang phát triển và kém phát triển.
Mức độ đói nghèo ở các quốc gia được xác định khác nhau do đặc điểm địa lý, kinh tế, chính trị - xã hội. Hội nghị chống đói nghèo khu vực Chậu Á - Thái Bình Dương do ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and thế Pacific) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan tháng 09/1993 đánh giá: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Theo Ngân hàng Thế giới thước đo nghèo đói được xác định: + Nghèo theo thước đo thu nhập: Một người được coi là nghèo khi mức thu nhập của người đó thấp hơn một ngưỡng tối thiểu thiết yếu để đáp ứng những nhu cầu cơ bản. Ngưỡng tối thiểu đó thường được gọi là “chuẩn nghèo”.
+ Chỉ số nghèo con người (HPI) là chỉ tiêu đo lường mức sống của một nước do Liên hợp quốc xây dựng, ngoài nhân tố thu nhập còn đưa thêm các nhân tố về mù chữ, suy dinh dưỡng của trẻ em, chết sớm, dịch vụ y tế nghèo nàn, thiếu khả năng tiếp cận với nước sạch. Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020. Cụ thể như sau: *Các tiêu chí về thu nhập 11 a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. b) Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
* Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 Cụ thể, về chuẩn nghèo sẽ điều chỉnh tiêu chí tại Điều 3 của Nghị định này quy định các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 như sau: Tiêu chí thu nhập: - Khu vực nông thôn: 1.000 đồng/người/tháng. - Khu vực thành thị: 2.000 đồng/người/tháng. Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản: - Các dịch vụ xã hội cơ bản (6 dịch vụ), gồm: Việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin.
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: Việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; 12 diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025 quy định: Chuẩn hộ nghèo: - Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Chuẩn hộ cận nghèo: - Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Khái niệm tín dụng hộ nghèo. Tín dụng hộ nghèo là một bộ phận của tín dụng chính sách. Theo Ủy ban Châu Âu (European Commission) (2000), tín dụng chính sách là sự cung cấp dịch vụ tài chính trên một phạm vi rộng bao gồm tiết kiệm, cho vay, dịch vụ tiền trả, chuyển giao tiền và bảo hiểm tới người nghèo và các hộ gia đình thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ.
Tín dụng chính sách xã hội là một trong những công cụ, giải pháp quan trọng của Đảng, Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp trong việc thực hiện các 13 chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, tạo việc làm, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội. Tùy theo lĩnh vực, mục tiêu, Chính phủ sẽ có những chính sách khác nhau như chính sách quốc phòng, chính sách ngoại giao, chính sách kinh tế,… Trong kinh tế cũng có nhiều loại chính sách khác nhau, như chính sách về thuế, tiền tệ, tỷ giá, tín dụng…Chính sách tín dụng cũng được chia thành: chính sách tín dụng đối với khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo; chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ… 1. Các loại tín dụng đối với hộ nghèo Hiện nay, ở nước ta đang sử dụng ba loại hình tín dụng chính sách phục vụ cho ba mục tiêu mà Nhà nước muốn hỗ trợ, đó là: (1) Tín dụng hỗ trợ đầu tư phát triển, (2) Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu và (3) Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hợi. Về tổ chức thực hiện tín dụng chính sách, Chính phủ đã cho thành lập hai ngân hàng là ngân hàng phát triển (NHPT) Việt Nam và ngân hàng chính sách xã hội.
NHPT Việt Nam, mà tiền thân là Quỹ Hỗ trợ phát triển đang thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển và hỗ trợ xuất khẩu. Tín dụng đối với hộ nghèo là khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi, còn được gọi là tín dụng vi mô (Đỗ Ngọc Tân, 2012). Tùy theo từng nguồn có thể hưởng lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo nhanh chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng. Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc và điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của Ngân hàng thương mại mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau: Mục tiêu của tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người nghèo có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống và vươn lên thoát nghèo.
Đây là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng chính sách. Nguyên tắc thực hiện của tín dụng đới với hộ nghèo + Cho vay những hộ nghèo có sức lao động, có phương án sản xuất kinh doanh nhưng thiếu vốn sản xuất kinh doanh. + Hộ nghèo vay vốn phải có tên trong danh sách hộ nghèo theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động Thương binh Xã hội qui định cho từng thời kỳ. + Cho vay có hoàn trả gốc và lãi theo kỳ hạn thỏa thuận.
- Điều kiện vay vốn: Cho vay không phải thế chấp tài sản 1. Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 1. Khái niệm hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo Hiệu quả tín dụng là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị xã hội. Có thể hiểu hiệu quả tín dụng đối với người nghèo của NHCSXH là sự thoả mãn nhu cầu về sử dụng vốn giữa chủ thể Ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích kinh tế mà xã hội thu được và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
Có thể xem xét hiệu quả tín dụng từ các chủ thể như sau: 1. Từ phía Ngân hàng chính sách xã hội Đối với NHCSXH để đánh giá một chương trình tín dụng đạt hiệu quả tốt phải căn cứ vào tình hình hoạt động của chương trình đó. Một chương trình tín dụng được cho là hoạt động có hiệu quả khi doanh số cho vay cao, doanh số thu nợ đến hạn cao, dư nợ phải đạt chỉ tiêu kế hoạch được phê duyệt, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, tỷ lệ thu lãi đạt kế hoạch. Riêng đối với kênh tín dụng cho vay người nghèo cần xét tới chỉ tiêu là số hộ nghèo vay vốn được thoát nghèo.
Từ phía người nghèo Đối với người nghèo, chương trình tín dụng người ngheo hiệu quả khi chương trình đó: 15 - Giúp người nghèo thoát khỏi đói nghèo sau một quá trình sản xuất kinh doanh cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn nghèo, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng. Góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo, phục vụ cho sự phát triển và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trính tích tụ và tập chung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế. - Giúp cho người nghèo xác định rõ trách nhiệm của mình trong quan hệ vay mượn, khuyến khích người nghèo sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh tạo thu nhập để trả nợ Ngân hàng, tránh sự hiểu nhầm tín dụng là cấp phát. Từ khía cạnh xã hội Từ khía cạnh kinh tế xã hội, chương trình tín dụng đối với hộ nghèo hiệu quả khi nó mang lại sự phát triển, sự ổn định xã hội: - Góp phần xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi cuộc sống ở nông thôn, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực.
Tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn. - Tăng cường sự gắn bó giữa các hội viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế gia đình.