CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Theo luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam định nghĩa “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Khoản 3 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng. “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”Khoản 12 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng.
[10] Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình Ngân hàng giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ, tiền gửi định kỳ, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng là khách hàng trong nền kinh tế” Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, bao gồm: Huy động vốn dưới mọi hình thức, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chiết khấu chứng từ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính, thấu chi, cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng khác. Luật các tổ chức tín dụng cũng đã khẳng định tính chất kinh doanh vì lợi nhuận của Ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội Luan van 4 1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM 1. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yến của các NHTM .Nguồn vốn huy động luôn chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.Vốn huy động là tài sản bằng tiền của tổ chức và cá nhân mà NHTM tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. NHTM được huy động vốn với các hình thức sau đây: a. Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi định kỳ có thể rút ra khi đến hạn.
Hiện nay, nhiều NHTM cho phép loại tiền gửi nảy rút trước hạn nhưng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn có tính ổn định cao. Khách hàng gửi tiền với mục đích hưởng lãi theo kỳ hạn mình gửi. Vì vậy, lãi suất cao là công cụ để thu hút nguồn vốn này.
Các NHTM thường sử dụng nguồn huy động này để cân đối để sử dụng cho mục đích trung và dài hạn Tiền gửi có kỳ hạn có nhiều loại hình gửi như kỳ hạn 1, 3, 6, 9, 12, 13, 15, 24, 36 tháng. Nhiều hình thức lãnh lãi khác nhau như hàng tháng, hàng quý, hàng năm hay lãnh lãi cuối kỳ. Tùy theo đặc thù của mỗi NHTM mà áp dụng lãi suất có kỳ hạn khác nhau nhưng nhìn chung kỳ hạn gửi, kỳ hạn lãnh lãi càng lâu thì lãi suất càng cao b. Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi hoạt kỳ là loại tiền gửi mà người chủ tài khoản sử dụng một cách chủ động và tài khoản này không quy định kỳ hạn rút .Người gửi tiền chủ yếu chọn loại hình không vì mục đích lãi suất mà vì mục đích thanh toán, giao dịch, chuyển tiền hoặc do có giá trị nhỏ quá nên được giữ trong tài khoản.
Phát hành giấy tờ có giá Đây là phương pháp hữu hiệu để ngân hàng huy động nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư. Loại tiền gửi này rất ổn định.Điểm khác biệt loại tiền gửi này so với tiền gửi định kỳ là loại tiền gửi này không cho phép rút trước hạn và kỳ hạn thì Luan van 5 không có nhiều kỳ hạn như tiền gửi định kỳ.Vì vậy, lãi suất loại hình này thường cao hơn tiền gửi định kỳ. Các loại hình phát hành giấy tờ có giá là phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng được hiểu là việc các Ngân hàng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động từ nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư để cấp tín dụng.
Việc cấp tín dụng là công việc chủ yếu của các NHTM với mục đích là huy động với lãi suất thấp và cấp tín dụng với mức lãi suất cao hơn theo biên độ phù hợp quy định, quy chế của NHTM hay của Ngân hàng nhà nước Ngân hàng Thương Mại sẽ thỏa thuận để các khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ khác… Hầu hết các thoã thuận giữa Ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế được thể hiện thông qua các hợp đồng tín dụng. Cho vay Cho vay là hoạt động tín dụng chủ yếu và mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho NHTM. Ngân hàng thương mại sẽ cung ứng nguồn vốn vay cho nền kinh tế để các cá nhân, tổ chức kinh tế sử dụng nguồn vốn này để sử dụng, bổ sung vốn lưu động đảm bảo hoạt động kinh doanh được liên tục. Cho vay có nhiều hình thức, loại hình để đáp ứng nhu cầu của thị trường như cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn.Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay phục vụ tiêu dùng.
Cho vay theo từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng Đây là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Vì nó góp phần luân chuyển nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu b. Chiết khấu Chiết khấu giấy tờ có giá là việc NHTM mua lại giấy tờ có giá đối với tổ chức, cá nhân trong nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài đang hoạt động và cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Luan van 6 Các loại giấy tờ được chiết khấu là hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng hành.
Ngày nay, đi cùng sự nền kinh tế thị trường. Nhiều tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá, hay các doanh nghiệp, cá nhân thanh toán với nhau bằng giấy tờ có giá nên hoạt động chiết khấu cũng phổ biến c. Bảo lãnh Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng cấp bảo lãnh được lập trên văn bản để cam kết với bên nhận bảo lãnh nếu đến hạn bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp đồng dân sự, thì với tư cách là ngân hàng bảo lãnh sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. Đây là hoạt động để ngăn ngừa hạn, hạn chế rủi ro phát sinh trong quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong nền kinh tế như cam kết thanh toán, cam kết dự thầu, cam kết thực hiện hợp đồng, cam kết bảo hành, cam kết hoàn tiền ứng trước Ngày nay, hoạt động bảo lãnh ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế vì hoạt động này đảm bảo cho các bên tham gia phát trong quá trình kinh doanh.
Ngày nay, đây là hoạt động được ngân hàng chú trọng vì nguồn lợi nhuận từ khoản phí và thường rất ít khi xảy ra rủi ro trong nghĩa vụ đảm bảo mà ngân hàng đảm bảo d. Cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa Bên cho thuê là các công ty Cho thuê tài chính và Bên thuê là khách hàng. Cho thuê tài chính đáp ứng nhu cầu các dự án trung và dài hạn. Khi hết thời hạn cho thuê tài chính, bên thuê có quyền mua lại tài sản đó hoạt tiếp tục thuê.
Đây là hoạt động thiết yếu trong nền kinh tế hiện nay nhất là khi các dự án trung và dài dạn xuất hiện ngày càng nhiều. Hoạt động kinh doanh sản phẩm dịch vụ khác Luan van 7 Dịch vụ thanh toán được xem là nghiệp mang lại tỷ suất lợi nhuận cao. Các phương tiên thanh toán thông dụng bao gồm: séc, ủy nhiệm chi, thương phiếu, lệnh chi. Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán về hàng hóa và dịch vụ thông qua thanh toán bù trừ, chuyển khoản qua mạng lưới thanh toán điện tử trong nội bộ hệ thống ngân hàng hay khác hệ thống ngân hàng, chuyển khoản trong nước hay nước ngoài.
Dịch vụ chi trả lương qua tài khoản cá nhân, thanh toán hóa đơn tiền điện, điện thoại, nước,. qua dịch vụ thẻ đang phát triển mạnh tạo nguồn thu đáng kể cho các NHTM. Dịch vụ chuyển tiền, nhận tiền kiều hối ngày càng được mở rọng và đẩy mạnh phát triển. Nhiều NHTM đã liên kết, hợp tác làm đại lý nhận chuyển tiền và chi trả kiều hối cho một số tổ chức tài chính như quốc tế như Western Union, Bên cạnh đó, NHTM còn có các hoạt động kinh doanh dịch vụ như: dịch vụ ngân quỹ, Internet Banking.
SMS Banking, Máy POS, Máy CDM, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C, DP, chuyển tiền ra nước ngoài,. Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất. Như vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh phải là một đại lượng so sánh: so sánh giữa đầu vào với đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra với kết quả kinh doanh thu được.
Biểu hiện cao nhất của hiệu quả hoạt động kinh doanh chính là lợi nhuận. Lợi nhuận càng cao phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, vì mục đích cuối cùng của kinh doanh là lợi nhuận.