Chương 1 – Những vấn đề lý luận về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Chương 2 – Phương pháp nghiên cứu đề tài Chương 3 – Phân tích hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4 – Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam 1 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Đứng trên góc độ nhìn nhận NHTM là một doanh nghiệp, ta có thể xem xét hiệu quả hoạt động NHTM dưới nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng “Hiệu quả sản xuất kinh doanh diễn ra khi doanh nghiệp không tăng sản lượng một loại hàng hóa mà cũng không cắt giảm một loại hàng hóa khác. Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Thực chất quan điểm này muốn đề cập đến vấn đề phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sao cho việc sử dụng mọi nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho doanh nghiệp có hiệu quả [46].Rose – giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale – về bản chất NHTM cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép.
Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư [10]. Theo quan điểm này, hiệu quả được hiểu rộng ra trên hai khía cạnh: (1) Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác; (2) Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng (hoạt động tại một mức rủi ro cho phép). Một khái niệm phổ biến nhất của hiệu quả chính là “Hiệu quả kỹ thuật”, theo Farrel (1957) [38] cho rằng hiệu quả của một doanh nghiệp bao gồm 2 thành phần: hiệu quả kỹ thuật – phản ánh khả năng của doanh nghiệp tối đa hóa đầu ra với một lượng đầu vào cho trước hay khả năng cực tiểu hóa sử dụng đầu vào để sản xuất một lượng đầu ra cho trước, và hiệu quả phân bổ - phản ánh khả năng lựa chọn các 2 đầu vào của doanh nghiệp để tạo ra mức đầu ra cụ thể tại một mức giá kỳ vọng và trình độ công nghệ cho trước với chi phí sản xuất là thấp nhất. Hai thước đo này kết hợp để cho ra một thước đo về hiệu quả kinh tế.
Farrel nói thêm, một doanh nghiệp đạt hiệu quả kỹ thuật khi nó không thể gia tăng bất kỳ lượng đầu ra hay giảm bất kỳ lượng đầu vào nào mà không giảm đầu ra hay tăng đầu vào khác. Vì vậy, một doanh nghiệp khi được xem xét để so sánh hiệu quả kỹ thuật với một doanh nghiệp khác nếu nó đã sản xuất một lượng đầu ra giống nhau với ít đầu vào hơn, hay nhiều đầu ra hơn bởi một lượng đầu vào giống nhau hay ít hơn. Qua tìm hiểu các quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh ở trên, ta có thể hiểu rằng: Hiệu quả kinh tế nói chung hay hiệu quả sản xuất kinh doanh ngành ngân hàng nói riêng là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ và vốn) nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng mong đợi mà doanh nghiệp đã đặt ra – đó là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận [46]. Hiệu quả hoạt động kinh doanh sử dụng hai chỉ tiêu để đánh giá là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào), nghĩa là chi phí đầu vào càng nhỏ, đầu ra càng lớn và càng chất lượng thì chứng tỏ hiệu quả càng cao.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM dưới góc độ hiệu quả kinh tế - khả năng kết hợp các đầu vào một cách tối ưu để sản xuất ra các đầu ra mong muốn với chi phí thấp nhất – kết quả của sự kết hợp của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Cạnh tranh gay gắt và ngày một gia tăng trong lĩnh vực tài chính tạo ra nhu cầu nắm bắt thông tin cho phép đánh giá hoạt động NHTM trong thị trường này. Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Các phương pháp này có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, điển hình là cách phân loại thành 3 phương pháp như sau: 3 - Phương pháp truyền thống gồm các chỉ số tài chính dựa trên các phân tích báo cáo tài chính; - Các phương pháp tham số (Stochastic Production Frontier – SPF) dựa trên kiến thức về hàm sản xuất, sử dụng kinh tế lượng để ước lượng hiệu quả sản xuất; - Các phương pháp phi tham số liên quan đến phương pháp lập trình toán học để ước lượng hiệu quả sản xuất.
Trong giới hạn đề tài, phương pháp truyền thống và phương pháp phi tham số DEA được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại. Một số chỉ số tài chính của phƣơng pháp đánh giá truyền thống 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Mục tiêu: đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được thể hiện qua các chỉ tiêu sau: - Tỷ suất Lợi nhuận/Tài sản Có (ROA): Ý nghĩa: nó cho biết một đồng tài sản Có tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng, qua đó đánh giá chất lượng tài sản Có trong ngân hàng. Tỷ số này càng lớn cho thấy công tác quản trị tài sản Có tốt, ngân hàng kinh doanh và đầu tư hiệu quả.
Nếu ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động ngân hàng cao quá mức. Ngược lại, với mức ROA cao thường phản ảnh kết quả hoạt đông tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự chuyển đổi linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động nền kinh tế. Tuy nhiên, khả năng sinh lời quá lớn cũng có thể ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro lớn do thực hiện đầu tư quá mạo hiểm hoặc dự trữ giảm quá mức. - Tỷ suất lợi nhuận/Vốn (ROE): Ý nghĩa: nó cho biết trong kỳ kinh doanh, một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, qua đó đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng đồng vốn trong ngân hàng thương mại.
Tỷ số này càng lớn thì khả năng sinh lời càng lớn, hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng càng cao. Như vậy, ROE đo lường tỷ lệ 4 thu nhập cho các cổ động của ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng. Để đánh giá đầy đủ hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, người ta thường dùng các đẳng thức thể hiện mối liên hệ giữa các tỷ lệ sinh lời sau: - Hệ số nhân vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản có/ Vốn chủ sở hữu: phản ánh số lượng tài sản Có trên một đơn vị vốn chủ sở hữu. Ý nghĩa: tỷ số thể hiện sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận.
Dựa vào công thức trên ta có thể thấy, Hệ số nhân vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đo lường trực tiếp mức độ đòn bẩy tài chính của ngân hàng, nghĩa là bao nhiêu đồng giá trị tài sản được tạo ra trên cơ sở một đồng vốn chủ sở hữu và ngân hàng phải dựa vào nguồn vốn vay là bao nhiêu. Từ đó, có một số ngân hàng có ROA thấp để đạt được ROE cao thông qua sử dụng đòn bẩy tài chính và sử dụng tối thiểu vốn chủ sở hữu. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất biên - Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM): Ý nghĩa: nó cho thấy khả năng sinh lời và dự báo khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng của NHTM, qua đó có thể điều chỉnh, kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản có sinh lời. Nói cách khác, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
- Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NM): Ý nghĩa: tỷ số này đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ và chi phí kinh doanh trong ngân hàng - Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên: Ý nghĩa: chỉ tiêu giúp đánh giá tình hình và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Trong đó, thu hoạt động bao gồm các khoản thu nhập lãi thuần, các khoản thu nhập ngoài 5 lãi; và chi hoạt động gồm các khoản chi phí ngoài lãi (lao động, khấu hao, chi phí hoạt động khác). - Chênh lệch lãi suất bình quân: Ý nghĩa: chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động trung gian tín dụng của NHTM, nghĩa là đánh giá hiệu quả của hoạt động huy động vốn và cho vay trong NHTM. Ngoài ra, chỉ tiêu này có thể so sánh để đo lường mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng trên thị trường tiền tệ.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả lao động Mục tiêu: giảm chi phí hoạt động và tăng năng suất lao động, tài sản trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ nhân viên - Ý nghĩa: phản ánh mỗi quan hệ giữa đầu vào (tử số) và đầu ra (mẫu số), là khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng - Ý nghĩa: phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của ngân hàng - Ý nghĩa: phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản. Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính - Chỉ tiêu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) = Vốn tự có / Tổng tài sản Có rủi ro Ý nghĩa: chỉ tiêu này đánh giá mức độ an toàn vốn của ngân hàng, theo quy đinh tỷ lệ này phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8%.