Luận án tiến sĩ: Hiệu quả cho vay ưu đãi tại các quỹ bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ môi trường phân tích hiệu quả cho vay ưu đãi tại các quỹ bảo vệ môi trường ở việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

264
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1. Khái quát về cho vay ưu đãi trong bảo vệ môi trường

1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay ưu đãi

1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi các dự án đầu tư bảo vệ môi trường

1.4. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Quy trình nghiên cứu

2.2. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI CÁC QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

3.1. Tổng quan về Quỹ Bảo vệ môi trường ở Việt Nam

3.2. Thực trạng hiệu quả tài chính của hoạt động cho vay ưu đãi tại các Quỹ Bảo vệ môi trường ở Việt Nam

3.3. Thực trạng hiệu quả xã hội – môi trường của hoạt động cho vay ưu đãi tại các Quỹ Bảo vệ môi trường ở Việt Nam

3.4. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI CÁC QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

4.1. Kết quả phân tích nhân tố khám phá/EFA

4.2. Phân tích nhân tố khẳng định/CFA

4.3. Phân tích kết quả hồi quy cấu trúc

4.4. Đánh giá chung

4.5. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI CÁC QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

5.1. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia và định hướng phát triển các Quỹ Bảo vệ môi trường ở Việt Nam

5.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi tại các Quỹ Bảo vệ môi trường ở Việt Nam

5.3. Một số kiến nghị

5.4. Tóm tắt chương 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, BÀI BÁO LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về hiệu quả cho vay ưu đãi tại các Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Luận án tiến sĩ của Dương Thị Phương Anh tập trung vào hiệu quả cho vay ưu đãi tại các Quỹ Bảo vệ môi trườngViệt Nam. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của các chính sách ưu đãi trong việc hỗ trợ các dự án bảo vệ môi trường, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và xã hội của các khoản vay này. Luận án cung cấp cái nhìn tổng quan về cơ chế hoạt động của các quỹ, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn.

1.1. Khái niệm và vai trò của cho vay ưu đãi

Cho vay ưu đãi là hình thức tín dụng với lãi suất thấp hoặc không lãi, nhằm hỗ trợ các dự án có lợi ích xã hội và môi trường. Trong bối cảnh Việt Nam, các Quỹ Bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững thông qua việc cung cấp vốn ưu đãi cho các dự án xử lý chất thải, năng lượng tái tạo và bảo tồn đa dạng sinh học.

1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay ưu đãi

Hiệu quả của cho vay ưu đãi được đánh giá dựa trên hai khía cạnh chính: hiệu quả tài chínhhiệu quả xã hội - môi trường. Các tiêu chí đo lường bao gồm tỷ lệ hoàn vốn, tác động đến môi trường và sự hài lòng của cộng đồng. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp các yếu tố này để đảm bảo tính bền vững của các dự án.

II. Thực trạng hiệu quả cho vay ưu đãi tại các Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù các Quỹ Bảo vệ môi trường đã đạt được một số thành tựu trong việc hỗ trợ các dự án, vẫn còn nhiều hạn chế như nguồn vốn hạn chế, quy trình quản lý chưa đồng nhất và chất lượng nhân sự chưa đáp ứng yêu cầu. Các dữ liệu từ giai đoạn 2016-2020 cho thấy tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn huy động chậm, trong khi nhu cầu vốn cho các dự án bảo vệ môi trường ngày càng tăng.

2.1. Hiệu quả tài chính của hoạt động cho vay ưu đãi

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả tài chính của các khoản vay ưu đãi chưa đạt được như kỳ vọng. Tỷ lệ nợ xấu tại một số quỹ địa phương vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở các dự án có quy mô nhỏ và thiếu tính khả thi. Điều này phản ánh sự cần thiết phải cải thiện quy trình thẩm định và quản lý rủi ro.

2.2. Hiệu quả xã hội và môi trường

Mặc dù còn nhiều thách thức, các dự án được hỗ trợ bởi Quỹ Bảo vệ môi trường đã góp phần giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ trong chính sách và sự phối hợp giữa các bên liên quan đã hạn chế hiệu quả tổng thể của các dự án.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi tại các Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Luận án đề xuất một loạt giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả cho vay ưu đãi, bao gồm hoàn thiện cơ cấu tổ chức, tăng cường nguồn vốn, nâng cao chất lượng nhân sự và tăng cường quản lý rủi ro. Các giải pháp này được xây dựng dựa trên phân tích thực trạng và các bài học kinh nghiệm từ các quỹ môi trường quốc tế.

3.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quy trình quản lý

Để nâng cao hiệu quả quản lý quỹ, cần thiết lập các quy trình thẩm định và giám sát chặt chẽ hơn. Đồng thời, việc đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân sự là yếu tố then chốt để đảm bảo tính chuyên nghiệp trong hoạt động của các quỹ.

3.2. Tăng cường nguồn vốn và quản lý rủi ro

Một trong những giải pháp quan trọng là đa dạng hóa nguồn vốn thông qua các hình thức như tín dụng xanhtrái phiếu xanh. Bên cạnh đó, việc áp dụng các công cụ quản lý rủi ro hiện đại sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu và đảm bảo tính bền vững của các khoản vay.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước (CNH – HĐH), nhiệm vụ bảo vệ môi trường (BVMT) luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng bởi chiến lược BVMT luôn gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội bền vững của đất nước. Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH, hoạt động BVMT ở Việt Nam trong thời gian qua đã có sự thay đổi tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế của nhà nước từng bước được bổ sung và hoàn thiện, ngày càng phát huy hiệu quả đối với công tác BVMT.

Bên cạnh đó, hiểu biết của cộng đồng dân cư trong BVMT đã được nâng lên, công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã có những thay đổi rõ rệt. Tuy nhiên, các báo cáo, đánh giá thời gian qua phản ánh vấn đề quản lý môi trường ở nước ta còn nhiều lỗ hổng, luật pháp và thể chế chưa thực sự đủ mạnh để răn đe, cộng với năng lực ứng dụng khoa học công nghệ trong BVMT còn hạn chế…dẫn đến thực trạng báo động về ô nhiễm môi trường. Nguồn đất bị ô nhiễm, xói mòn; chất lượng nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; ô nhiễm môi trường tại các lưu vực sông, khu đô thị, khu công nghiệp, làng nghề gia tăng, điều kiện vệ sinh môi trường, nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm; tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng nông thôn, miền núi; thảm họa do thiên tai và những diễn biến xấu về biến đổi khí hậu… đã đặt công tác BVMT trước những yêu cầu và thách thức mới. Trước bối cảnh đó, chính phủ Việt Nam có nhiều chính sách quan trọng nhằm thực hiện chiến lược phát triển bền vững, gắn liền phát triển kinh tế - xã hội với công tác BVMT; thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính cho các dự án và hoạt động BVMT thông qua việc thành lập các Quỹ Bảo vệ môi trường tại Việt Nam, nhằm hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp vay vốn ưu đãi đầu tư các dự án BVMT, phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định 1261/QĐ- TTg ngày 5/9/2012 về Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Ngày 31/3/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về tín dụng đầu tư của Nhà nước, trong đó tại danh mục các dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư có bao gồm dự án xây dựng công trình xử lý nước thải, rác thải tại các khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, bệnh viện, làng nghề…; Dự án đầu tư xây dựng nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng: Gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh học, 2 điện sinh khối và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo; Dự án sản xuất ứng dụng sáng chế bảo vệ môi trường được Nhà nước bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc bằng độc quyền giải pháp hữu ích theo quy định của pháp luật; Dự án đầu tư sản xuất phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng; đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất bằng công nghệ tiết kiệm năng lượng.… Thực hiện chiến lược trọng tâm của Chính phủ, các Quỹ BVMT ở Việt Nam đã triển khai cho vay lãi suất ưu đãi đối với các dự án đầu tư BVMT ở một số lĩnh vực ưu tiên. Hiện nay, cả nước có 48 Quỹ BVMT, trong đó có 01 Quỹ ở Trung ương, 46 Quỹ địa phương và 01 Quỹ của ngành than (thuộc Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam). Mục đích hoạt động của các Quỹ BVMT là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính cho các dự án đầu tư, chương trình, hoạt động BVMT; Gắn phát triển - xã hội với bảo vệ môi trường; khuyến khích đầu tư bảo vệ môi trường. Đến nay, nhiều dự án, chương trình hoạt động BVMT đã triển khai thành công nhờ vào việc tiếp nhận hỗ trợ tài chính từ các Quỹ BVMT và sự trợ giúp tài chính từ các tổ chức quốc tế.

Tuy nhiên, hoạt động của các Quỹ BVMT ở Việt Nam hiện nay đang gặp một số vấn đề bất cập như: nguồn vốn hoạt động các Quỹ trong cả nước được cấp còn nhiều hạn chế so với nhu cầu cần hỗ trợ vốn của các dự án đầu tư BVMT; chưa có quy định cụ thể về mức vốn điều lệ tối thiểu cho hoạt động của các Quỹ BVMT; các quy định về cơ chế hoạt động, quy trình tín dụng cho vay ưu đãi của các Quỹ BVMT tại Việt Nam chưa đồng nhất; chất lượng nhân sự trong quản lý tín dụng, thẩm định các dự án cho vay ưu đãi của các Quỹ BVMT còn hạn chế; năng lực quản trị, điều hành trong triển khai các dự án được vay vốn ưu đãi của một số cá nhân, chủ doanh nghiệp còn nhiều bất cập; cơ quan quản lý nhà nước của các Quỹ BVMT ở các địa phương hiện nay không như nhau; thậm chí, tính đến nay cả nước mới có 26 Quỹ BVMT trên tổng số 48 Quỹ triển khai hoạt động cho vay ưu đãi, số còn lại chỉ đơn thuần nhận kí Quỹ hoặc có vốn nhưng chưa triển khai hoặc thực hiện các hoạt động mang tính phong trào trong BVMT…dẫn đến hoạt động cho vay ưu đãi các dự án đầu tư BVMT ở Việt Nam trong thời gian qua chưa thực sự hiệu quả và còn nhiều bất cập. Mặt khác, tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào cách thức quản lý, huy dộng, kiểm soát nguồn vốn hợp lý hoặc chú trọng quá trình thẩm định dự án đầu tư và tập trung vào kỹ thuật phân tích đánh giá lợi ích - chi phí đối với lĩnh vực BVMT; hiệu quả cho vay ưu đãi từ nguồn ngân sách nhà nước, nguồn vốn hỗ trợ ODA nói chung trong xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững nhưng chưa có bất cứ nghiên cứu nào về hiệu quả cho vay ưu đãi các dự án đầu tư BVMT và nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi trong BVMT tại hệ thống các Quỹ BVMT Việt Nam. Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài Luận án:“Hiệu quả cho vay ưu đãi tại các Quỹ bảo vệ môi trường ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Kết quả 3 nghiên cứu giúp cán bộ quản lý các quỹ BVMT có cách nhìn tổng quan về hiệu quả cho vay ưu đãi trong BVMT và có khả năng nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi trong BVMT, ứng dụng các giải pháp đề xuất của tác giả nhằm nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi tại các Quỹ BVMT ở Việt Nam.

Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả cho vay ưu đãi các dự án bảo vệ môi trường 2. Nghiên cứu về huy động nguồn vốn cho vay ưu đãi các dự án bảo vệ môi trường Maciej Nowicki (2009) nhận định các quỹ môi trường ở cấp quốc gia và cấp tỉnh đóng một vai trò quan trọng trong việc phân phối các quỹ nước ngoài dành cho hoạt động BVMT. Hệ thống Quỹ tạo thành một công cụ tài chính và công cụ tổ chức cho Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường hỗ trợ thực hiện chính sách môi trường quốc gia. Tác giả đề xuất phương án huy động nguồn vốn cho quỹ BVMT phải được xác định rõ ràng có nguồn gốc từ thu phí và tiền phạt gây ô nhễm môi trường cho việc sử dụng môi trường trong lĩnh vực phát triển bền vững.

Bằng cách này, nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả phí" đã được thực hiện ở Ba Lan, do đó nguồn vốn thu được dành cho các dự án hạn chế ô nhiễm môi trường ngày một tăng lên. Nghiên cứu về các chiến lược quản lý, tài trợ cho biến đổi khí hậu và phát triển toàn cầu, các tác giả Richard B. Stewart, Benedict Kingsbury và Bryce Rudyk (2009); Luis Gomez Echeverri và Benito Muller (2009) đã khẳng định việc phòng ngừa rủi ro thiệt hại nghiêm trọng do biến đổi khí hậu không chỉ cắt giảm sâu lượng phát thải khí nhà kính ở các nước phát triển mà còn tập trung huy động nguồn vốn lớn thúc đẩy tăng trưởng xanh ở các nước đang phát triển. Giảm hậu quả của biến đổi khí hậu sẽ phụ thuộc vào sự kết hợp của các quỹ công và quỹ đầu tư tư nhân thông qua các chính sách cho vay ưu đãi.

Các tác giả khẳng định, việc xác định các vấn đề, thống nhất quan điểm và đưa ra các đề xuất mới, mang tính toàn diện về cơ chế tài chính, quy định về huy động quản lý tài chính sẽ tiếp tục đòi hỏi các cơ quan quản lý quỹ BVMT công và tư nhân có cách tiếp cận sáng tạo. Đặc biệt các nguồn vốn quay vòng đã được huy động từ khu vực tư nhân để đầu tư cho vay ưu đãi các dự án BVMT. Theo Kats và cộng sự (2012) các quỹ này, thường do chính phủ tài trợ và quản lý, cấp cho các dự án BVMT thông qua hình thức cho vay ưu đãi hoặc tài trợ không hoàn lại. Tuy nhiên, quỹ quay vòng bị hạn chế đối với hoạt động huy động tài chính tư nhân và đặc thù các dự án BVMT thường triển khai trong thời gian dài nên quá trình quay vòng khá chậm.

Ngoài ra, quỹ quay vòng có thể dẫn đến sự biến dạng của thị trường tài chính và đôi khi cản trở thương mại và phát triển bền vững (Taylor và cộng sự, 2008). Các tác giả Biljana Ilić, Dragica Stojanovic và Gordana Djukic (2019), cho rằng cách huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu xanh như một công cụ mới để tài trợ cho các dự án BVMT đang là phương án khả thi tăng nguồn vốn cho lĩnh vực này. Trái phiếu xanh có tầm quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu 4 bền vững, bởi số tiền nhận được thông qua phát hành trái phiếu xanh chỉ được chi cho các dự án môi trường và giảm hậu quả ô nhiễm mang lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Hiệu quả cho vay ưu đãi tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam" là một nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả của các chính sách cho vay ưu đãi nhằm hỗ trợ các dự án bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Tài liệu này phân tích chi tiết cơ chế hoạt động, tác động kinh tế - xã hội, và những thách thức trong việc triển khai các khoản vay ưu đãi. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quỹ, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, và những ai quan tâm đến lĩnh vực tài chính môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn pháp lý về quản lý chất thải, một khía cạnh quan trọng trong bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Đồ án xử lý khí thải full file cad bản vẽ thiết kế hệ thống xử lý khí thải cho lò đốt rác sinh hoạt tại huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu công suất 2.000 kg/h sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp kỹ thuật trong xử lý chất thải. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị mang đến cái nhìn sâu sắc về các biện pháp bảo vệ môi trường thông qua trồng rừng phòng hộ.