CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng là hướng nghiên cứu được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm và khai thác. Về khía cạnh tín dụng, hướng nghiên cứu chủ yếu gồm có: các yếu tố tác động đến hoạt động cho vay, quyết định cho vay và chất lượng tín dụng của các NHTM.
Bên cạnh đó, quản trị rủi ro tín dụng là một trong những tiêu chí quan trọng quyết định đến hiệu quả tín dụng cũng cũng là lĩnh vực được đặc biệt quan tâm. Những nghiên cứu này đã tập trung làm rõ bản chất hoạt động tín dụng, các đặc thù của hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng, các nguyên nhân, việc đo lường rủi ro tín dụng và các nội dung quản trị, điều hành nhằm hạn chế rủi ro tín dụng NHTM. Dưới đây là tóm tắt một số nghiên cứu điển hình trong lĩnh vực này: * Các nghiên cứu về tín dụng: Jonas Ladime và cộng sự trong nghiên cứu “Determinants of Bank Lending Behaviour in Ghana” (Nghiên cứu các yếu tố quyết định hành vi cho vay của ngân hàng ở Ghana), (2013) đã sử dụng dữ liệu bảng, bao gồm tổng hợp mười bảy (17) ngân hàng trong giai đoạn 1997 – 2006 và áp dụng mô hình được sử dụng bởi Alfaro và cộng sự (2003). Theo đó, tác giả xây dựng mô hình với các biến sau: Biến phụ thuộc tính theo tổng danh mục cho vay của ngân hàng i tại một thời kỳ nhất định, biến độc lập bao gồm quy mô, mức chênh lệch lãi suất huy động và cho vay của ngân hàng và cấu trúc vốn, HHI đại diện cho đặc tính của ngành là chỉ số cạnh tranh và MAC là các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm tỷ giá cơ bản, tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội thực tế và tỷ giá hối đoái.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng và cấu trúc vốn có mối quan hệ thuận chiều và có ý nghĩa thống kê với hoạt động cho vay của ngân hàng. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về tác động ngược chiều và đáng kể của một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tỷ giá cho vay của ngân hàng trung ương và tỷ giá hối đoái) đến hành vi cho vay của ngân hàng. Cạnh tranh trong ngành được nhận thấy có tác động tích cực và đáng kể đến hành vi cho vay của ngân hàng. Nghiên cứu của tác giả Andrew Semanu Apawuza (2019) “Effect of capital requirement on profitability and lending behavior of banks in Ghana” (Tác động của 6 nhu cầu vốn đến khả năng sinh lợi và hành vi cho vay của các ngân hàng tại Ghana) đã đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc đến khả năng sinh lời và hoạt động cho vay của các ngân hàng ở Ghana.
Nghiên cứu sử dụng phân tích dữ liệu bảng tổng hợp với cách tiếp cận nghiên cứu định lượng, cũng như phương pháp lấy mẫu có chủ đích để lấy mẫu 12 ngân hàng ở Ghana trong giai đoạn 2011-2017. Để kiểm định các giả thuyết đặt ra trong nghiên cứu, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc ROE và tỷ lệ vốn vay trên tiền gửi. Các biến độc lập gồm có: Nhu cầu vốn của ngân hàng, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng của ngân hàng, đòn bẩy tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình tác động cố định (FEM) phù hợp hơn so với mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) trong việc xác định sự thay đổi trong của khả năng sinh lời và hoạt động cho vay của các ngân hàng ở Ghana.
Nghiên cứu đã phát hiện ra ảnh hưởng thuận chiều của nhu cầu vốn đối với khả năng sinh lời của các ngân hàng ở Ghana. Ngoài ra, nghiên cứu đã phát hiện ra tác động ngược chiều của tỷ lệ dự trữ bắt buộc với hoạt động cho vay của các ngân hàng ở Ghana. Nghiên cứu khuyến nghị rằng các nhà quản lý ngân hàng nên tăng cường nỗ lực nâng cao lợi nhuận của các ngân hàng bằng cách đảm bảo rằng có đủ vốn đồng thời họ nên đưa ra một số chính sách và hệ thống để quản lý các hoạt động cho vay của họ. Laivi Laidroo, Kadri Mannasoo (2017) trong nghiên cứu “Do credit commitments compromise credit quality?” (Các cam kết tín dụng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng hay không?) đã phân tích rủi ro của các ngân hàng phát sinh từ sự tăng trưởng tín dụng.
Chất lượng tín dụng được điều tra tại 28 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 2004-2014 và bảng điều tra của 478 ngân hàng châu Âu trong giai đoạn 2004-2013. Kết quả ước lượng dữ liệu bảng xác nhận rằng sự gia tăng tỷ số cam kết tín dụng đối với tổng tài sản là một cảnh báo trước cho sự tăng trưởng trong tỷ lệ nợ xấu và dự phòng rủi ro. Phương pháp dự báo đồng thời minh họa rằng tác động bất lợi của các cam kết tín dụng đối với chất lượng tín dụng bắt nguồn từ bối cảnh bùng nổ tín dụng. Từ đó chứng minh được rằng tác động kinh tế của các cam kết tín dụng đối với chất lượng tín dụng là đáng kể so với các yếu tố quyết định chất lượng tín dụng truyền thống (tăng trưởng GDP thực và tăng trưởng tín dụng thực tế).
Tác giả Dimitris Gavalas và cộng sự trong nghiên cứu “An integrated credit rating and loan quality model: application to bank shipping finance” (2014) (Mô hình chất lượng cho vay và xếp hạng tín dụng: áp dụng vào các ngân hàng vận tải đường 7 biển) đã nghiên cứu xây dựng một mô hình xếp hạng tín dụng tích hợp để xếp hạng tín dụng người vay nhằm hỗ trợ các quyết định cấp tín dụng của ngân hàng. Dựa trên cuộc khảo sát của ngân hàng toàn cầu, một bộ tiêu chí cốt lõi gồm cả tiêu chí định lượng và định tính được xác định ban đầu, sau đó được xác định trọng số và xếp hạng, kết hợp với phương pháp tối ưu hóa đa tiêu chí năng động được thiết kế trên nền tảng khuôn khổ quy định ngân hàng chặt chẽ nhất quán, như Basel I, II và gần đây là Basel III. Ngoài ra, tác động của sự thay đổi rủi ro tín dụng đối với danh mục cho vay ngân hàng cũng được nghiên cứu. Những vấn đề này đã được kiểm tra thực nghiệm trên một mẫu danh mục cho vay của ngân hàng vận tải biển như một nghiên cứu điển hình.
Phương pháp UTADIS được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác động tương đối của các yếu tố rủi ro đã chọn đối với việc chấm điểm xếp hạng tín dụng hiệu quả và đánh giá chất lượng khoản vay. Trên cơ sở đó, mô hình xếp hạng tín dụng và chấm điểm chất lượng khoản vay sau đó đã được phát triển, có tính đến các mức độ rủi ro được ưu tiên và đánh giá mức độ đóng góp của chúng vào một khuôn khổ phân tích tín dụng tích hợp, năng động và linh hoạt. Faiçal Belaid trong nghiên cứu “Loan quality determinants: evaluating the contribution of bank-specific variables, macroeconomic factors and firm level information” (2014) (Các yếu tố của chất lượng cho vay: đánh giá sự đóng góp của các biến thuộc về ngân hàng, yếu tố vĩ mô và mức độ thông tin của doanh nghiệp) đã sử dụng mô hình hồi quy probit để xem xét tác động của các chính sách của ngân hàng về hiệu quả chi phí, vốn hóa, đa dạng hóa hoạt động, tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận đến chất lượng cho vay trong lĩnh vực ngân hàng Tunisia sau khi kiểm soát các tác động của từng công ty cụ thể đặc điểm và điều kiện kinh tế vĩ mô. Tác giả đã sử dụng tập dữ liệu với thông tin chi tiết của hơn 9000 công ty bao gồm danh mục đầu tư của mười ngân hàng lớn nhất Tunisia cũng như các biến số kinh tế vĩ mô.
Để xem xét tác động của thông tin cụ thể của từng ngân hàng đối với sự phát triển của chất lượng khoản vay, mô hình hồi quy đã được xây dựng với các biến khả năng sinh lời, hiệu quả chi phí, vốn hóa, đa dạng hóa hoạt động, tăng trưởng và quy mô tín dụng của ngân hàng. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng một tập hợp các biến kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát và lãi suất cho vay áp dụng cho các khoản vay đối với các công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các ngân hàng có chi phí kém hiệu quả, vốn hóa thấp, mức độ đa dạng và nhỏ, có nhiều khả năng có chất 8 lượng danh mục cho vay thấp. Tuy nhiên, lợi nhuận của ngân hàng dường như không đóng góp quan trọng trong việc giải thích sự phát triển của chất lượng khoản vay.
Hasanul Banna và cộng sự trong nghiên cứu “How does total quality management influence the loan quality of the bank?” (2016) (Quản lý chất lượng tổng thể ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng cho vay của ngân hàng?) đã điều tra xem liệu quản lý chất lượng toàn diện (TQM) có ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay của ngân hàng hay không và ở mức độ nào. Nhóm nghiên cứu đã đề xuất một cách tiếp cận để đo lường TQM để đánh giá mối quan hệ này. Số đo được đề xuất là phần còn lại từ hồi quy Fama – MacBeth dựa trên hiệu quả ngân hàng được tính theo tỷ lệ thu nhập trên chi phí. Để thực hiện nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu của 581 ngân hàng thương mại Hoa Kỳ từ cơ sở dữ liệu SNL Financial cho giai đoạn 1991–2013 với tổng số 13.303 quan sát theo năm ngân hàng.
Kết quả cho thấy TQM có quan hệ tỷ lệ thuận với chất lượng cho vay của ngân hàng. Điều này cho thấy rằng việc thực hiện TQM tốt hơn có thể giúp ban lãnh đạo giám sát khách hàng vay, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả, quản lý danh mục cho vay chất lượng tốt, giảm thiểu chi phí và tạo ra nhiều doanh thu hơn. Luận án “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng xuất khẩu tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Hà Thị Mai Anh (2015) đã giải quyết các vấn đề sau: Hệ thống các lý luận về chất lượng tín dụng xuất khẩu, trình bày một cách logic và có phương pháp khoa học về đánh giá chất lượng tín dụng xuất khẩu, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất khẩu.