CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 1. Tín dụng và vai trò của hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (NH hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán. [19] Định nghĩa trên được đưa ra dựa trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH, từ đó, ta có thể hiểu bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản có những đặc trưng như sau: - Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời: trong quan hệ chuyển nhượng này chỉ có sự chuyển giao về quyền sử dụng mà không có sự chuyển giao về quyền sở hữu tài sản giữa các bên.
- Quan hệ tín dụng mang tính hoàn trả: lượng giá trị hoàn trả bao gồm vốn gốc và lãi, trong đó lãi là giá cả cho quyền sử dụng vốn mà bên cho vay đã giao cho bên đi vay. - Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay: đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. Người cho vay tin tưởng rằng vốn gốc và lãi sẽ được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn. Người đi vay tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của đồng vốn.
Sự tin tưởng này có được do uy tín của người đi vay, giá trị tài sản thế chấp hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba. Tín dụng đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với hoạt động của hệ thống NH, mà với toàn bộ nền kinh tế: - Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội nhờ việc cung ứng vốn kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, giúp giảm bớt chi phí và 5 thời gian tiếp cận nguồn vốn của các chủ thể kinh tế. Trong xã hội luôn có một số người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn muốn đi vay. Song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau để cho nhau vay.
Hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời, nên tín dụng NH là cầu nỗi giữa người có vốn và người cần vốn và để giải quyết nhu cầu thỏa đáng trong mối quan hệ này. Các hình thức tín dụng hiệu quả không những tạo sự chủ động cho các DN trong việc thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nguồn vốn tự có không đáp ứng đủ nhu cầu, mà còn giúp tiết kiệm nguồn vốn do các DN phải quan tâm đến hiệu quả của đồng vốn nhằm thực hiện tốt những điều kiện tín dụng đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng vốn. - Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng (lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng), từ đó tác động đến khối lượng và cơ cấu tín dụng tương ứng với từng loại thời hạn và đối tượng tín dụng và cuối cùng làm thay đổi tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất khác.
- Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội. Với các hình thức tín dụng, cơ chế và lãi suất thích hợp tín dụng đã góp phần nâng cao đời sống của nhân dân ngay cả khi thu nhập còn hạn chế. Thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng vai trò quan trọng nhằm thực hiện các chính sách việc làm, dân số và các chương trình xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội. [18] - Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Hoạt động tín dụng không chỉ bó hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế. Trong điều kiện kinh tế mở, vay nợ nước ngoài ngày nay trở thành một nhu cầu khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới, nó lại càng tỏ ra bức thiết hơn đối với các nước đang phát triển. Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, là nước nghèo, tích luỹ trong nước còn hạn chế, trong khi cần lượng vốn rất lớn để phát triển kinh tế. Nhờ có tín dụng, các nước có thể 6 mua hàng hoá, nhập khẩu máy móc, thiết bị.và tiếp cận với những thành tựu khoa học kĩ thuật mới cũng như trình độ quản lý tiên tiến trên thế giới.
Việc cấp tín dụng của các nước không chỉ mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thương, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước nhập khẩu. Tín dụng đã tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế trực tiếp – một hình thức hợp tác kinh tế ở mức độ cao hơn. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại a. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Timmothy W.Roch: “RRTD là sự thay đổi của thu nhập thuần và giá trị của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn”.
Theo Ủy ban Basel: “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận". Theo quy định tại điều 2, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động NH của các TCTD thì: “RRTD trong hoạt động NH của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, bản chất RRTD là những khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi NH cấp tín dụng: Những thiệt hại, mất mát mà NH gánh chịu do người vay vốn không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kỳ lý do gì?. RRTD là rủi ro phát sinh trong trường hợp các trung gian tài chính không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
[18] RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên NH, tín dụng thuê mua, cho vay đồng tài trợ. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Nguyên nhân của RRTD bao gồm những nhóm nguyên nhân chính: nguyên nhân từ môi trường kinh doanh, nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn, nguyên nhân từ phía NH cho vay. - Nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh: bao gồm sự biến động của nền kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường văn hóa xã hội, sự phát triển của khoa học công nghệ, môi trường địa lý… - Nhóm nguyên nhân từ khách hàng vay vốn: khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng lãng phí, tham nhũng, khách hàng gặp rủi ro hoặc khó khăn trong hoạt động kinh doanh, năng lực tài chính yếu kém, khách hàng không có thiện chí trong việc trả nợ vay, khả năng quản trị kém… - Nhóm nguyên nhân từ bản thân NH: chính sách tín dụng của NH không phù hợp với điều kiện kinh tế và đối tượng khách hàng; CBTD năng lực thấp, chưa được đào tạo đầy đủ, ít kinh nghiệm trong ngành nghề mà mình tài trợ, ngoài ra cũng có thể do vấn đề đạo đức không tốt của cán bộ thẩm định như không trung thực, thiếu trách nhiệm, cấu kết với người đi vay để chiếm đoạt vốn của NH; NH không thực hiện hoặc thực hiên không đầy đủ khâu bảo đảm tín dụng, không thực hiên tốt công tác giám sát tín dụng; cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khu vực, một ngành cho nên đã hạn chế sự linh hoạt của NH trước những biến động của thị trường cạnh tranh. Hậu quả của rủi ro tín dụng - Đối với NH: Khi RRTD xảy ra, NH không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho các khoản huy động đến hạn, điều này làm cho NH mất cân đối trong việc thu chi.
Việc không thu được nợ làm vòng quay vốn tín dụng giảm, hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Đến một mức nào đó, khi không còn đủ vốn để trả cho người gửi tiền nữa, NH rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Kết quả là NH bị thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm, kết quả kinh doanh ngày càng xấu. Hơn nữa, khi nội bộ các cấp NH có bất đồng, những nhân viên có năng lực không được trả lương xứng đáng tìm cách thuyên chuyển công 8 tác tạo ra sự biến động trong cơ cấu nhân sự.
Tất cả những hệ lụy này có thể dẫn NH đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản. - Đối với nền kinh tế: RRTD ở một NH có thể xảy ra ở các mức độ khác nhau: nhẹ nhất là NH bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất là khi NH không thu hồi được vốn gốc và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến NH bị lỗ và mất vốn. Khi một NH gặp phải RRTD gây hoang mang cho các khách hàng gửi tiền, từ đó có thể xảy ra hiện tượng rút tiền ồ ạt. Là một định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động có tính hệ thống, NH có quan hệ rộng với nhiều chủ thể trong nền kinh tế.
Nếu một NH gặp rủi ro ảnh hưởng dây chuyền của nó sẽ lan tới các NH khác và các đối tượng có quan hệ tín dụng, hậu quả là gây nên sự bất ổn cho toàn bộ nền kinh tế. Các yếu tố vĩ mô bị ảnh hưởng: nền kinh tế rơi vào suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định, cuộc sống người dân không được đảm bảo.