Chương 1, tác giả xin trình bày những kiến thức được tìm hiểu của mình về hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng bám sát trọng tâm là nội dung theo tiêu chuẩn COSO 2013, cùng với đó tác giả đưa ra những chỉ tiêu nhằm đánh giá về chất lượng tín dụng và những bài học kinh nghiệm từ những Ngân hàng khác trong nước. Khái quát về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động tín dụng Tín dụng được hiểu thông qua các định nghĩa như sau: Tín dụng là “quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả. Nói cách khác tín dụng là sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện bằng hình thái tiền tệ hoặc tài sản hiện vật từ người cho vay này sang người vay với những điều kiện nhất định để sau một thời gian nhất định người cho vay thu được một lượng giá trị dánh nghĩa lớn hơn ban đầu”.1: Hoạt động tín dụng document, khoa luan17 of 98.
tai lieu, luan van18 of 98. 2 Hồ Diệu 2003 định nghĩa tín dụng là: “một loại giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) theo đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến thời hạn thanh toán”. Rủi ro trong hoạt động tín dụng Không một doanh nghiệp nào là không phải đối mặt với những nguy cơ rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Các rủi ro thường gặp trong Ngân hàng thương mại có thể được liệt kê như sau: 2 Hình 1.2: Rủi ro đối với Ngân hàng Là nguồn kinh doanh thu về lợi nhuận cao nhất của Ngân hàng, cùng với những đặc điểm và đặc thù.
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng, document, khoa luan18 of 98. tai lieu, luan van19 of 98. 3 nó thường chiếm phần lớn trong các hoạt động kinh doanh, tỷ lệ thuận với lợi nhuận từ nghiệp vụ tín dụng là rủi ro. Theo đó, rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay.
Thùy Linh và Việt Trinh 2014 cho rằng: “ Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng”. (Bernard Manso 1992) viết rằng “ rủi ro là tác động của những biến cố xảy ra trong tương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hay một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố xảy ra như thế nào. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ tiền lãi hoặc tiền gốc theo các điều kiện và cam kết trong hợp đồng tín dụng”. Tại Việt Nam, theo khoản 1, điều 2 quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNNVN, đề cập khái niệm “rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” Bên cạnh đó, Basel Committee on Banking Supervision 2000 trong bộ nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng năm 2000 cho rằng: “ Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận” Rủi ro tín dụng có nhiều hình thái và mức độ khác nhau, nó luôn tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay, nhìn chung rủi ro tín dụng được biểu hiện bằng hình thái là món vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn,… Đề tài chỉ nghiên cứu đến những rủi ro khi tiến hành giao dịch cấp tín dụng cho khách hàng, Thùy Linh và Việt Trinh 2014 cho rằng “Rủi ro trong giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ”. Theo quan điểm của tác giả: Rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm năng có thể document, khoa luan19 of 98. tai lieu, luan van20 of 98. 4 xảy ra do phía khách hàng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam kết với ngân hàng.
Rủi ro tín dụng chính là khả năng xảy ra sự khác biệt ngoài mong muốn giữa thu nhập thực tế và thu nhập dự tính đúng hạn, nhận được đầy đủ gốc và lãi. Rủi ro tín dụng cũng sẽ dẫn đến tổn thất làm giảm thu nhập ròng. Rủi ro giao dịch phát sinh do nhiều nguyên nhân như trong quá trình phân tích, đánh giá, thẩm định và xét duyệt tín dụng hoặc phát sinh do thiếu chặt chẽ ở khâu theo dõi kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay hoặc phát sinh ở khâu đảm bảo thực hiện những cam kết trong hợp đồng tín dụng. Mặt khác, cũng có thể rủi ro xuất phát từ việc khách hàng sử dụng sai mục đích vay vốn, Ngân hàng không phát hiện để ngăn chặn kịp thời.
Khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng KSNB là các chính sách, quy trình, thông lệ và cơ cấu tổ chức được thiết lập nhằm có được sự đảm bảo ở mức độ hợp lý rằng Ngân hàng sẽ đạt được các mục tiêu kinh doanh và phòng ngừa, phát hiện hoặc khắc phục các sự việc ngoài mong muốn. Là công cụ quản lý rủi ro mang tính bao quát, KSNB là công việc của tất cả mọi người, ở mọi khâu công việc. Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về kiểm soát nội bộ, có rất nhiều định nghĩa khác nhau từ tổng quát đến cụ thể được đưa ra từ các tổ chức như: Hội kế toán Anh quốc (England Association of Accountant - EAA), Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute of Certificated Public Accountant - AICPA), Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountant - IFAC),… Tuy nhiên, lý thuyết được chấp nhận rộng rãi hiện nay là của COSO (Committee of Sponsoring Organization), một ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính.
Theo COSO (Committee of Sponsoring Organizations) (1992, 2013) định nghĩa: “KSNB là một quá trình do Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị cùng thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được ba mục tiêu sau: document, khoa luan20 of 98. tai lieu, luan van21 of 98. 5 – Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động – Sự tin cậy của báo cáo tài chính 3Hình 1.3: Mô hình kiểm soát nội bộ theo COSO – Sự tuân thủ pháp luật và các quy định” 1 Trong đó: – KSNB là một quá trình: Hệ thống KSNB không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ. – KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Vì KSNB không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập,… mà phải bao gồm cả yếu tố con người: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên của tổ chức.
Chính con người định ra mục tiêu kiểm soát và thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành 1 Định nghĩa COSO được đưa ra vào năm 1992, COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Uy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (The National Commission on Fraudulent Financial Reporting hay còn gọi là Treadway Commission). COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB, cụ thể là: ˗ Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau. ˗ Công bố đầy đủ một hệ thống tiêu chuân để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống KSNB của họ nhằm tìm giải pháp hoàn thiện. document, khoa luan21 of 98.
tai lieu, luan van22 of 98. Cụ thể: Hội đồng quản trị và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa, mô hình phù hợp nhằm hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục, tất cả các thành viên của Ngân hàng đều tham gia vào quy trình này. Bên cạnh đó, theo Thông tư 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011, khái niệm về KSNB là “Việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống KSNB; đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”. Tóm lại, KSNB là một hệ thống những chốt chặn kiểm soát do con người thiết lập và vận hành, đây không phải là một công việc của một cá nhân cụ thể mà nó là cả một mạng lưới của toàn bộ ban lãnh đạo cũng như cán bộ, nhân viên.
Dựa vào những mục tiêu do ban lãnh đạo đề ra, từ đó xây dựng được một hệ thống gồm những quy định, chính sách cụ thể nhằm thực hiện được mục tiêu đã đề ra, KSNB chính là những chốt chặn nhằm ngăn ngừa rủi ro hoặc những sai lệch xảy ra, thông qua những báo cáo nhằm kịp thời điều chỉnh đảm bảo cho những mục tiêu cuối cùng sẽ thực hiện được. Bên cạnh đó, KSNB hoạt động tín dụng nói chung là một trong những khâu của quá trình KSNB do hệ thống KSNB tiến hành nên sẽ không có một khái niệm chính xác và hoàn chỉnh.