CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH 1. KHÁI NIỆM HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ RỦI RO CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 1. Hệ thống tài chính Hệ thống tài chính được hiểu là tổng thể các hình thức thể hiện các bộ phận hợp thành tài chính gắn liền với các quỹ tiền tệ đặc trưng. Hệ thống tài chính bao gồm các bộ phận hợp thành của nhiều lĩnh vực hoạt động tài chính dưới những hình thức nhất định, tác động lẫn nhau trong toàn bộ hoạt động của nền tài chính.
Cấu thành trong hệ thống tài chính bao gồm: Tài chính công; Tài chính doanh nghiệp; Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính các trung gian; Tài chính hộ gia đình và các tổ chức xã hội; Tài chính quốc tế (Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành, 2004). Tuy nhiên, trong luận văn, học viên chỉ đi sâu phân tích về tài chính trung gian bao gồm thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian, bổ trợ là cơ sở hạ tầng tài chính và các công cụ tài chính. Thị trường tài chính Trong nền kinh tế quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa sẽ phát sinh những chủ thể có nhu cầu vốn, hay thiếu vốn, ngược lại cũng có những chủ thể tích lũy dư thừa. Từ đó, hình thành nên nhu cầu trao đổi vốn giữa những người cần vốn và những người thiếu vốn, hình thành nên cơ chế chuyển vốn từ tiết kiệm sang đầu tư.
Thị trường tài chính là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người cần sử dụng. Thị trường tài chính là nơi tập trung huy động vốn các nguồn vốn trong xã hội để tài trợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế (Bùi Kim Yến, 2008) Các trung gian tài chính Các trung gian tài chính thể hiện chức năng trung gian tài chính, là người dẫn vốn từ người dư thừa vốn sang người thiếu vốn. Hoạt động chính của các trung gian tài chính là huy động được các nguồn vốn bằng cách phát hành quyền truy đòi ra 2 công chúng (chứng chỉ tiều gửi, tiền gửi tiết kiệm) sau đó dẫn vốn trực tiếp như cho vay hoặc đầu tư vào chứng khoán. Trung gian tài chính bao gồm: Ngân hàng thương mại (Commercial Banks); Hiệp hội tín dụng (Credit Unions); Công ty bảo hiểm (Insurance Company); Công ty chứng khoán (Security Companies); Quỹ hỗ tương (Mutual Funds); Công ty tài chính (Finance Companies); Công ty cho thuê tài chính (Finance Leasing Companies)… Bên cạnh đó còn có cơ sở hạ tầng tài chính là khuôn khổ các luật lệ và hệ thống làm nền tảng cho các bên (tiết kiệm - cho vay; đi vay - đầu tư) lập kế hoạch, đàm phán và thực hiện các giao dịch tài chính.
Trong cơ sở hạ tầng tài chính bao gồm: - Hệ thống pháp luật và quản lý Nhà nước - Nguồn lực và hệ thống giám sát - Các nguồn cung cấp thông tin: luật và quy định kế toán, cơ quan thông tin tín dụng, tổ chức xếp hạng tín nhiệm, công chúng. - Hệ thống thanh toán, hệ thống hỗ trợ giao dịch chứng khoán Các công cụ tài chính gồm có: Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, thương phiếu…giúp cho việc trao đổi vốn giữa các thành viên trên thị trường 1. Rủi ro của hệ thống tài chính 1. Khái niệm Rủi ro hệ thống tài chính là nguy cơ sụp đổ toàn bộ hệ thống tài chính hoặc thị trường tài chính khi các cú sốc tới hệ thống tài chính làm rối loạn chức năng dẫn vốn của hệ thống tài chính (Miskhin, 1999).
Rủi ro trong hệ thống tài chính có thể dẫn đến hậu quả lớn nhất đó là khủng hoảng tài chính. Khi đánh giá rủi ro hệ thống có thể xuất phát từ 2 nguyên nhân chính: Sự tác động của các yếu tố vĩ mô làm suy yếu hệ thống và nền kinh tế; Ảnh hưởng lan tỏa từ sự suy yếu của một hay một số tổ chức đến các tổ chức khác và đến toàn bộ hệ thống. 3 Mỗi lĩnh vực có những rủi ro đặc thù phổ biến: Ngân hàng thường gặp rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường; Kinh doanh chứng khoán thường gặp rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống; Kinh doanh lĩnh vực bảo hiểm thường gặp rủi ro bảo hiểm, rủi ro tái bảo hiểm, rủi ro thanh khoản. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro hệ thống tài chính Hiện nay có hai hệ thống chỉ tiêu đo lường mức độ an toàn của hệ thống tài chính được đề cập đến phổ biến nhất đó là hệ thống chỉ tiêu của ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank - ADB) và hệ thống chỉ tiêu của Ngân hàng trung ương Châu Âu (European Central Bank - ECB).
ADB đã hợp tác cùng IMF, BIS, Deutsche Bundesbank, NHTW Nhật Bản, NHTW Hàn Quốc, Cục thống kê Úc và Uỷ ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương để đưa ra một hệ thống chỉ tiêu giám sát thận trọng bao gồm 67 chỉ tiêu cơ bản và 43 chỉ tiêu phụ. Hệ thống chỉ tiêu này được chia làm bảy nhóm bao gồm: Nợ nước ngoài và dòng chu chuyển tài chính; Tiền tệ và Tín dụng, Ngân hàng; Lãi suất; Thị trường chứng khoán và trái phiếu; Thương mại, Tỷ giá và Quỹ ngoại hối; Dữ liệu thống kê về kinh doanh (Khu vực sản xuất, xây dựng, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ). Như vậy, có thể thấy hệ thống chỉ tiêu của ADB xây dựng đánh giá gần như mọi mặt về sự ổn định hệ thống tài chính của một quốc gia. KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 1.
Khái niệm, mục tiêu giám sát hệ thống tài chính 1. Khái niệm Giám sát tài chính là hoạt động theo dõi, kiểm tra thường xuyên tình hình tài chính - tiền tệ nhằm mục đích ngăn chặn sự đổ vỡ của hệ thống tài chính thông qua phát hiện và ngăn chặn những vấn đề khó khăn về tài chính trước khi nó vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Mục tiêu giám sát hệ thống tài chính 1 Phụ lục 1 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro của hệ thống tài chính theo ADB 4 Duy trì sự ổn định hệ thống tài chính Đây là mục tiêu đầu tiên mà một hệ thống giám sát tài chính cần làm được, hoạt động của hệ thống tài chính có tính chất nhạy cảm, dễ bị tác động và dễ làm ảnh hưởng đến toàn hệ thống. Hệ thống giám sát phải nắm bắt kịp thời các dấu hiệu có nguy cơ mang lại rủi ro cho hệ thống để kịp thời ngăn chặn.
Ổn định hệ thống tài chính là việc hệ thống tài chính vận hành các chức năng dẫn vốn, phân bổ nguồn lực, xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính một cách hiệu quả. Đảm bảo sự lành mạnh của các tổ chức tài chính Sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính không đồng nghĩa với việc tất cả các định chế tài chính đều phải hoạt động hiệu quả và an toàn. Hoạt động lành mạnh có nghĩa các tổ chức tài chính phải tuân thủ các điều kiện đảm bảo an toàn do các chủ thể giám sát đã đề ra, đảm bảo các trung gian tài chính có đủ khả năng sẽ được tham gia thị trường cạnh tranh một cách bình đẳng và đồng thời chắt lọc các tổ chức không đủ điều kiện tham gia thị trường. Bởi lẽ hệ thống tài chính nhạy cảm và có tác động dẫn truyền.
Nếu các cơ quan chức năng dễ dàng cho các tổ chức tài chính còn yếu kém tham gia thị trường vô hình chung cũng sẽ tác động tiêu cực đến toàn hệ thống. Bảo vệ người tiêu dùng Một trong những hiện tượng phổ biến khi tham gia thị trường tài chính đó là thông tin bất cân xứng. Hiện tượng này gây nên một thị trường không minh bạch, có kẻ thu được những nguồn lợi nhuận khổng lồ trên sự tổn thất của người khác. Trong các chủ thể tham gia thị trường tài chính, người tiêu dùng là đối tượng cần bảo vệ vì họ bị hạn chế trong việc tiếp xúc thông tin và bởi đôi khi những người tư vấn đã đưa ra thông tin sai lệch, ảnh hưởng lợi ích nghiêm trọng.
Hệ thống giám sát cần đảm bảo cho người tiêu dùng có thể có được sản phẩm tài chính với mức giá tương ứng, đo lường được tổn thất, rủi ro và lợi nhuận khi đầu tư từng loại sản phẩm tài chính. Đảm bảo hiệu quả của hệ thống tài chính 5 Hiệu quả của hệ thống tài chính được đề cập đến bao gồm cả hiệu quả trong và ngoài hệ thống, tức phải đảm bảo hệ thống tài chính đạt được hiệu quả và đảm bảo lợi ích cho xã hội. Điều này được thể hiện như chi phí vốn cho toàn xã hội giảm xuống, việc tiếp cận vốn dễ dàng thuận lợi hơn cho các chủ thể, giảm thiểu tình trạng thông tin bất cân xứng vì dễ dàng khai thác thông tin và minh bạch hóa thông tin tối đa. Nội dung giám sát hệ thống tài chính 1.
Giám sát an toàn vĩ mô Khái niệm Giám sát an toàn vĩ mô được hiểu là hoạt động giám sát nhằm đảm bảo sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính thông qua việc xác định sớm những điểm yếu, những nguy cơ tiềm tàng có thể làm tổn hại đến hệ thống tài chính, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng biện pháp nhằm ngăn chặn sớm sự bất ổn của hệ thống. Trước đây, các nhà làm chính sách chỉ quan tâm đến việc giám sát từng định chế tài chính và từng lĩnh vực trong hệ thống tài chính nhưng dường như điều này chưa đủ, thể hiện rất rõ qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Đó là những bài học cho thấy rõ tầm quan trọng của việc giám sát an toàn hệ thống vĩ mô. Công cụ giám sát an toàn vĩ mô Các công cụ giám sát an toàn vĩ mô được xây dựng và áp dụng khá linh hoạt tùy thuộc vào các điều kiện vĩ mô và tùy vào từng giai đoạn của từng quốc gia nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là đảm bảo an toàn cho cả hệ thống.
Cụ thể mục đích là để đánh giá mức độ ổn định của các chỉ số và quan hệ vĩ mô, mức độ tin cậy, mức độ lan truyền của rủi ro hệ thống và mức độ tác động của thị trường bên ngoài đến nền kinh tế. Hệ thống cảnh báo sớm (Early Warning System - EWS) rủi ro hệ thống tài chính là một công cụ giám sát an toàn hệ thống ưu việt.