PHẦN MỞ ĐẦU Trong chương này tác giả sẽ trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, giới hạn của nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Từ đó là cơ sở để thực hiện nội dung của chương 2.1 Lý do chọn đề tài Số liệu của Tổng cục thống kê tại Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2020. Lực lượng lao động thất nghiệp trên cả nước là 1,2 triệu người, trong đó số người có trình độ Cao đẳng, Đại học trở lên chiếm 30,8% tương ứng với khoảng 369. Ngoài những nguyên nhân khách quan gây ra thất nghiệp trong sinh viên sau khi tốt nghiệp, thì một trong những nguyên nhân chính đó là kết quả học tập của sinh viên không tốt.
Sinh viên ra trường không nắm vững kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên ngành và các kỹ năng mềm khác đã được đào tạo tại nhà trường, dẫn đến khi tiếp cận với công việc rất khó khăn. Theo thống kê của Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Cung ứng nguồn nhân lực – Bộ giáo dục và đào tạo, về thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp tăng dần theo thứ hạng. Theo đó, sinh viên tốt nghiệp với thứ hạng càng cao thì tỷ lệ xin được việc làm càng lớn. Cụ thể với sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc thì tỷ lệ xin được việc làm là 94,5% so với 77,8% sinh viên tốt nghiệp loại Trung bình [2].
Những sinh viên có kết quả học tập tốt như xuất sắc được nhà tuyển dụng ưu tiên xem xét và để ý kỹ hơn, cũng yên tâm hơn khi tuyển dụng [3]. Tỷ lệ xin được việc làm sau khi ra trường của những sinh viên có học lực xuất sắc cũng cao hơn những sinh viên có học lực trung bình. Từ đó sinh viên sẽ có điều kiện để trả nợ nếu có vay vốn từ ngân hàng. Hàng năm nhu cầu vay vốn của sinh viên là từ 10% – 15% số lượng sinh viên nhập học.
Tổng số sinh viên có việc làm sau khi ra trường, chiếm tỷ lệ 68% [4]. Còn 32% sinh viên thất nghiệp hoặc phải làm các công việc tạm khác với thu nhập thấp và không ổn định. Nếu trong số sinh viên thất nghiệp này có vay vốn ngân hàng sẽ gặp khó khăn hoặc không thể trả được lãi và gốc cho ngân hàng sau khi ra trường. Từ đó dẫn đến làm tăng các khoản nợ xấu trong ngân hàng.
2 Do đó, ngoài các thủ tục về hồ sơ vay vốn của sinh viên theo quy định, thì rất cần có thêm thông tin giúp ngân hàng có thể dự báo về học lực và khả năng tốt nghiệp của sinh viên, từ đó có thể đánh giá được rủi ro của khoản vay của sinh viên. Mặt khác, Trước áp lực tự chủ tài chính các trường đại học gần như bắt buộc phải tăng học phí. Theo PGS-TS Nguyễn Ninh Thụy, Trưởng Ban Kế hoạch Tài chính – Đại học Quốc gia TP HCM, thừa nhận khi các trường đại học công lập tự chủ tăng học phí có thể dẫn đến việc giảm cơ hội được đến trường của các sinh viên khó khăn [5]. Theo thống kê từ Phòng Đào tạo – Trường Đại học ngân hàng TP HCM.
Tỷ lệ sinh viên bỏ học của riêng hệ Đại học chính quy trung bình từ năm 2017 đến năm 2021 là 13.52%, tương đương với 1359 sinh viên. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc sinh viên bỏ học và một trong số đó là vấn đề khó khăn về tài chính và kết quả học tập không tốt. Để giải quyết vấn đề khó khăn về tài chính cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Trường Đại học Ngân hàng TP HCM có liên kết với các Ngân hàng, doanh nghiệp hỗ trợ cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ ngoài học bổng như: trợ cấp khó khăn giành cho những sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt, vượt khó học giỏi,….
Về vấn đề học lực của sinh viên không tốt, nhà trường đã giao nhiệm vụ cho phòng Công tác sinh viên làm việc với các giảng viên cố vấn học tập, hỗ trợ đặc biệt cho các sinh viên có học lực không tốt, nhằm cải thiện kết quả học tập cho các sinh viên này. Khi một sinh viên lên Trung tâm hỗ trợ sinh viên đề nghị được hỗ trợ tiếp cận với các nguồn hỗ trợ tài chính dành cho các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, thủ tục xác minh mất rất nhiều thời gian và công sức. Vấn đề đặt ra là làm sao để biết sinh viên đề nghị có khó khăn về tài chính và học lực không tốt mà không cần phải liên hệ xác minh từ phòng Khảo thí hay kế toán. Về phía ngân hàng, khi nhận được hồ sơ vay vốn, ngoài các giấy tờ theo quy định và xác nhận khó khăn từ chính quyền địa phương, thì làm sao biết được lực học của sinh viên trong trường.
Để từ đó có thể dự đoán được khả năng tốt nghiệp của sinh viên. Do đó, rất cần một hệ thống dự báo mức độ rủi ro về tài chính và học lực của sinh viên. Để giúp nhà trường có thông tin chính xác, nhanh chóng hỗ trợ 3 cho các sinh viên thực sự khó khăn tiếp cận với những nguồn hỗ trợ tài chính phù hợp. Giúp ngân hàng có thêm thông tin đánh giá rủi ro khoản vay của sinh viên.
Đó cũng chính là lý ro tác giả chọn đề tài “XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO ĐỐI VỚI KHOẢN VAY SINH VIÊN”.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Giúp nhà trường đánh giá được các sinh viên có rủi ro về tài chính, từ đó tạo điều kiện cho các sinh viên này được tiếp cận với các nguồn hỗ trợ về tài chính phù hợp, yên tâm học tập. Với các sinh viên có học lực không tốt. Giảng viên cố vấn học tập sẽ tìm hiểu nguyên nhân, tư vấn phương pháp học tập, giúp sinh viên tự xây dựng kế hoạch học tập của riêng mình, nhằm cải thiện kết quả học tập. Giảm thiểu tình trạng bỏ học liên quan đến vấn đề tài chính và học tập của sinh viên trong Trường Đại học Ngân hàng TP HCM.
- Căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro khoản vay của sinh viên có thể giúp ngân hàng có thêm thông tin để dự báo rủi ro khoản vay của sinh viên. Giúp việc quản trị rủi ro tín dụng khoản vay của sinh viên hiệu quả hơn.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng của nghiên cứu của đề tài là sinh viên hệ Đại học chính quy ngành Ngân hàng các khóa 33, 34 và 35 thuộc Khoa Ngân hàng của Trường Đại học Ngân hàng TP HCM. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Khoa Ngân hàng, trường Đại học Ngân hàng TP HCM.4 Giới hạn của nghiên cứu - Đề tài chỉ nghiên cứu rủi ro tài chính và học lực của sinh viên, dựa vào các thông tin sinh viên đang có tại Trường Đại học Ngân hàng TP HCM. Từ đó đưa ra kết quả dự báo cho biết sinh viên đó có rủi ro tài chính hay không, học lực của sinh viên có khả năng tốt nghiệp ở mức nào.
Căn cứ vào trường thông tin sinh viên có vay vốn ngân hàng, có thể dùng kết quả để đưa ra dự đoán rủi ro có thể xảy ra với khoản vay của sinh viên. Tác giả không nghiên cứu về rủi ro tín dụng hay rủi ro các khoản vay cá nhân và tổ chức khác. 4 - Về tên gọi “Hệ thống đánh giá rủi ro đối với khoản vay sinh viên” trong đề tài chỉ là tên gọi của đề tài, không mang ý nghĩa đánh giá rủi ro tín dụng, hay dự báo rủi ro tín dụng đối với các khoản vay trong thực tiễn.5 Ý nghĩa khoa học Đề tài đề xuất đánh giá rủi ro khoản vay cho sinh viên theo hướng khai phá dữ liệu, với các mục tiêu sau: - Hệ thống được áp dụng vào đánh giá mức độ rủi ro tài chính và học lực của sinh viên. Tạo tiền đề cho việc nghiên cứu sâu về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục.
- Khi sử dụng hệ thống này, việc đánh giá hỗ trợ tài chính cho sinh viên sẽ minh bạch, nhanh chóng và chính xác, có thể thực hiện một cách dễ dàng ở mọi lúc, mọi nơi.6 Ý nghĩa thực tiễn - Giúp sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với các nguồn hỗ trợ tài chính phù hợp. các sinh viên có học lực chưa tốt được hỗ trợ tư vấn xây dựng kế hoạch học tập của riêng mình, nâng cao kết quả học tập. - Thông qua kết quả phân tích, nhà trường cũng nắm được hoàn cảnh của sinh viên, từ đó đưa ra các tư vấn hỗ trợ kịp thời, tạo động lực cho sinh viên học tập và hướng tới giảm tỷ lệ sinh viên bỏ học, tăng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp. - Ngân hàng có thêm thông tin để có thể đánh giá khoản vay của sinh viên, từ đó đưa ra dự báo rủi ro đối với khoản vay của sinh viên.
5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Mục tiêu của chương này nhằm giới thiệu một số khái niệm lý thuyết về hệ thống thông tin, khái niệm về rủi ro tín dụng tài chính, phương pháp đánh giá rủi ro theo định lượng, phân loại và đánh giá rủi ro theo máy học, một số thuật toán phân loại trong máy học, các công trình nghiên cứu có liên quan, từ đó đưa ra các vấn đề luận văn cần nghiên cứu giải quyết.1 Lý thuyết về hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là một tập hợp các thành phần có liên quan đến nhau được tổ chức để thực hiện một loạt các công việc từ thu thập thông tin đầu vào, xử lý thông tin, lưu trữ thông tin và xuất thông tin đầu ra, nhằm mục đích phản hổi một yêu cầu nào đó [6]. Chức năng chính của Hệ thống thông tin là xử lý thông tin. Bao gồm có thông tin đầu vào, bộ xử lý, thông tin đầu ra và thông tin phản hồi cần thiết của hệ thống. - Mô hình hệ thống thông tin cơ bản (Hình 2.1: Sơ đồ Hệ thống thông tin cơ bản - Đầu vào: trong hệ thống thông tin, việc thu thập dữ liệu thông tin đầu vào là một tập hợp các hoạt động thu thập dữ liệu thô [6].