CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THƯ ĐIỆN TỬ 1. Cấu trúc của thư điện tử Mỗi người dùng trong hệ thống thư điện tử phải có một địa chỉ thư dùng để thực hiện việc gửi thư và nhận thư. Địa chỉ thư được cấu trúc gồm 2 phần như sau: <hộp thư>@<vùng quản lý> + <hộp thư>: là địa chỉ của hộp thư của người nhận hay khoản thư mục của người dùng trên máy chủ quản lý thư. + <vùng quản lý>: là tên miền hay khu vực quản lý của người nhận thư trên Internet được đăng ký để chứa hộp thư.
Tóm lại địa chỉ thư thường có 2 phần chính. Ví dụ: User1@mail.vn Trong đó phần trước là phần tên của người dùng (User1) nó thường là hộp thư của người nhận trên máy chủ thư điện tử. Sau đó là phần đánh dấu @. Cuối cùng là phần miền tên xác định địa chỉ máy chủ thư điện tử quản lý thư mà người dùng đăng ký và có hộp thư trên đó.
Nó thường là tên của một cơ quan hay tổ chức và nó hoạt động trên hoạt động của hệ thống tên miền. Thư điện tử (E-mail) được chia thành 2 phần chính: • Phần đầu (header): chứa tên địa chỉ của người nhận, tên và địa chỉ của những người này sẽ được chuyển đến, chủ để của thư, tên và địa chỉ của người gửi, ngày tháng của bức thư…Cụ thể bao gồm: From: địa chỉ của người gửi. To: địa chỉ của người nhận chính. Cc: địa chỉ của những người đồng nhận thư điện tử (những người này sẽ nhận được một bản sao của thư).
5 Bcc: địa chỉ của những người nhận riêng (những người này cũng sẽ nhận được một bản sao của bức thư nhưng không xem được những ai nhận thư). Date: thời gian gửi bức thư. Subject: chủ đề thư. • Phần thân (body): chứa nội dung của thư và các file đính kèm.
Các thành phần trong hệ thống thư điện tử Hệ thống thư điện tử là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều thành phần hoạt động tương tác với nhau. Mỗi thành phần bản thân phục vụ các dịch vụ khác nhau, nhưng đồng thời các kết quả lại được đưa đến các thành phần khác để xử lý tiếp theo. Hình dưới đây là mô hình của hệ thống thư điện tử và sự tương tác giữa các thành phần bên trong: Hình 1. Sơ đồ tổng quan hệ thống thư điện tử Hầu hết hệ thống thư điện tử bao gồm ba thành phần cơ bản là MUA (Mail User Agent), MTA ( Mail Transfer Agent) và MDA (Mail Delivery Agent).1 MUA (Mail User Agent) MUA là chương trình quản lý thư đầu cuối, cho phép người dùng đọc và lấy thư vể từ MTA.
MUA lấy thư từ Mail-Server để xứ lý (thông qua giao thức POP3) hoặc chuyền thư cho một MUA khác qua MTA (thông qua giao thức SMTP). MUA cũng có thể xử lý trực tiếp thư trên Mail-Server (thông qua giao thức IMAP4). MUA cung cấp giao diện cho người dùng để tương tác với thư, gồm có: - Soạn thảo, chỉnh sửa thư. - Hiển thị thông tin bức thư.
- Chèn các file đính kèm (các file hình ảnh, video, word, ….) - Gửi trả hay chuyền tiếp thư. - Thay đổi các tham số của bức thư (tên server được sử dụng, mã hóa nội dung thư, …) - Cung cấp sổ địa chỉ (như danh bạ địa chỉ). Thao tác trên thư mục địa phương hay các thư mục ở xa. MTA (Mail Transfer Agent) MTA có nhiệm vụ nhận diện người gửi và người nhận qua thông tin được đóng gói trong phần Header của thư và điền các thông tin cần vào Header khi một bức thư được được gửi đến từ MUA.
Sau đó MTA chuyền thư cho MDA để chuyền đến hộp thư ngay tại MTA, hoặc chuyển cho Remote-MTA. 7 MTA quyết định việc chuyển thư dựa trên địa chỉ người nhận được tìm thấy trên header của mỗi bức thư: - Nếu nó trùng với hộp thư do Local - MTA thì bức thư được chuyển vào cho MDA cục bộ để chuyển vào hộp thư người nhận. - Nếu địa chỉ gửi bị lỗi, thư có thể được chuyển lại người gửi. - Nếu bức thư không bị lỗi nhưng không phải thư của MTA, tên miền được sử dụng để xác định Remote - MTA nào sẽ nhận thư, theo các bản ghi MX trên hệ thống tên miền.
- Khi các MX xác định được Remote - MTA quản lý tên miền đó thì chưa chắc là người nhận thuộc về Remote - MTA đó. Remote - MTA có thể chỉ là một thành phần Relay thư cho MTA khác. Khi không xác định được thì nó sẽ gửi lại cho MTA một cảnh báo. MDA (Mail Delivery Agent) MDA là một chương trình được MTA sử dụng để đưa thư vào hộp thư của người dùng.
MDA còn có khả năng lọc thư, định hướng thư, …. MTA thường được tích hợp với một MDA hoặc một vài MDA. Các giao thức truyền và nhận thư Cũng như bất kỳ một dịch vụ nào liên quan tới máy tính, thư điện tử đòi hỏi một ngôn ngữ chung cho việc truyền thư trên Internet, ngôn ngữ đó được nói đến như là một giao thức được dùng để truyền thông giữa các mail server với nhau hoặc giữa MTA (Message Transfer Agent) với mail server. Giao thức SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) SMTP là giao thức chuyển thư đơn giản, được sử dụng rộng rãi cho việc gửi mail, chuẩn này hiện thực hệ thống Store and Forward (lưu trữ và vận chuyển).
SMTP do Jon Postel thuộc trường đại học Nam California đã phát triển vào tháng 8 năm 1982. SMTP được MTA sử dụng trong việc truyền thư của người gửi đến mail server của người nhận hoặc từ mail server này đến mail server khác. Kết quả là mail được gửi sẽ nằm trong mailbox trên mail server của người nhận, SMTP được dùng để gửi mail, không dùng để nhận mail. SMTP bao gồm một tập các câu lệnh đơn giản được dùng để khai báo các thông tin cần thiết trong việc gửi mail như là địa chỉ người nhận, người gửi và dữ liệu thực tế ứng với các lệnh Mail, Rcpt và Data.
Giao thức này chạy trên tầng TCP/IP và sử dụng cổng 25. SMTP gửi thông điệp và không cho phép ai lấy thông điệp về từ máy chủ theo yêu cầu của mình một cách tùy ý. Với ưu điểm là được phát triển từ rất sớm, SMTP là chuẩn sử dụng ASCII của hầu hết Servermail trên thế giới nên phần lớn các hệ thống thư điện tử gửi thư qua Internet đều dùng giao thức này. Tuy nhiên, giao thức này cũng có nhược điểm là SMTP thiếu một số chức năng bảo mật, không đòi hỏi phải xác nhận người gửi là ai, do đó bất kỳ ai trên Internet cũng có thể gửi email đến một người hoặc thậm chí một nhóm người nào đó, đây là lý do vì sao lại xuất hiện thư nặc danh, thư quảng cáo trong hộp thư của chúng ta.,vì vậy phải bổ sung tính năng về mã hóa dữ liệu S/MIME hoặc OpenPGP, ngoài ra giao thức SMTP còn được hỗ trỡ định dạng dữ liệu rất kém (phải chuyển dữ liệu sang dạng ASCII bẳng giao thức MIME).
Giao thức POP (Post Office Protocol) 9 Giao thức POP3 được dùng để truy nhập và lấy các thông điệp thư điện tử từ mailbox trên máy chủ thư. Nói đơn giản, giao thức POP3 chỉ được dùng để nhận thư về. POP3 được thiết kế có hỗ trợ xử lý mail trong chế độ offline. Các thông báo mail được chuyển tới mailserver và máy client sử dụng giao thức POP3 kết nối tới mailserver đó để tải tất cả các thông báo mail về máy mình.
POP3 chỉ là thủ tục để lấy thư trên máy chủ thư điện tử về MUA. POP3 được quy định bởi tiêu chuẩn RFC 1939. Giao thức POP3 có những ưu điểm như: • Mail được lưu cục bộ, nên ta có thể truy cập ngay cả khi không có kết nối Internet. Kết nối Internet chỉ được dùng để nhận mail.
• Tiết kiệm không gian lưu trữ trên Server. • Được lựa chọn để lại bản sao mail trên Server. • Hợp nhất nhiều tài khoản E-mail và nhiều Server vào một hộp thư đến. Bên cạnh ưu điểm thì POP3 cũng có những nhược điểm như: • Đây là giao thức cũ được thiết kế từ trước đây nên khi gửi những E- mail dài sẽ bị hạn chế với nhiều file đính kèm.
• POP3 tải tất cả thư trên Server tại cùng 1 thời điểm nên người dùng thường sẽ không nhận đầy đủ tin nhắn của họ vì POP3 sẽ bị nghẽn hoặc mất kết nối khi cố download những tin nhắn có dung lượng lớn. • Khi check mail từ những máy khác nhau, bạn sẽ không thể xem được những E-mail cũ vì những E-mail đó chỉ tồn tại trên máy mà bạn nhận mail nếu khi cấu hình trên POP3 bạn không chọn copy 10 một bản trên Server. Vấn đề trên sẽ được giải quyết nếu sử dụng giao thức IMAP để duyệt mail. Giao thức IMAP (Internet Message Access Protocol) Đây là giao thức truy nhập thông điệp từ Internet, cho phép client truy nhập và quản lý các email từ Server, duyệt mail trực tiếp ngay trên mail server mà không phụ thuộc bạn sử dụng máy tính nào để duyệt mail.
Không chỉ tải thư điện tử về máy của người sử dụng (qua giao thức POP) mà có thể thực hiện các thao tác như đọc, tạo, sửa đổi, đổi tên mailbox,. thậm chí xóa các thông tin. IMAP được thiết kế trong môi trường người dùng có thể đăng nhập vào cổng Server (cổng 143/Tcp) từ các máy trạm khác nhau. IMAP nguyên thủy được phát triển bởi đại học Standford năm 1986.
Phiên bản mới nhất của IMAP là IMAP4, tương tự POP3 nhưng có nhiều chức năng hơn. Sử dụng IMAP, người dùng sẽ có những điều sau: • Tương thích đầy đủ với các chuẩn thông điệp Internet (ví dụ MIME). • Cho phép truy nhập và quản lý thông điệp từ nhiều máy tính khác nhau. • Hỗ trợ cả 3 chế độ truy nhập : online, offline, disconnected.
• Hỗ trợ truy nhập đồng thời tới các mailbox dùng chung. • Phần mềm bên Client không cần thiết phải biết kiểu lưu trữ file của Server. Hoạt động của hệ thống thư điện tử Hoạt động chính của hệ thống thư điện tử là thực hiện gửi thư, nhận thư, và chuyển thư. Thư điện tử được chuyển nhận thông qua các máy chủ thư 11 ( Mail Server), thông thường mỗi Mail Server bao gồm các thành phần MTA, MDA và Mailbox.
Để gửi thư, ta cần định hướng đến máy chủ thư SMTP server (MTA), máy chủ thư sẽ tìm kiếm địa chỉ và chuyển đến máy chủ thư của người nhận cho đến khi thư được lấy về. Để nhận thư, ta cần có một khoản mục thư điện tử (account). Nghĩa là ta phải có một địa chỉ để nhận thư.